Nghiên cứu bón phân ( phân bón ) cho cây hồ tiêu

Nghiên cứu bón phân ( phân bón ) cho cây hồ tiêu


 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đỗ Trung Bình, Nguyễn Lương Thiện: Viện KHKTNN miền Nam

Nguyễn Văn Khánh, Tôn Nữ Tuấn Nam: Viện Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên

Đỗ Thị Ngọc: Viện KHKTNN Duyên hải Nam Trung bộ

Nguyễn Văn Khoa: Chi cục Bảo vệ Thực vật Quảng Trị

1. MỞ ĐẦU

Cây Hồ tiêu (Piper nigrum thuộc họ Piperaceae) được trồng ở Việt Nam từ thế kỷ XVII (Chevalier, 1925). Trước những năm 1975, cả nước chỉ có khoảng 500 ha hồ tiêu với sản lượng ước chừng 500 tấn. Từ năm 1997, diện tích hồ tiêu tăng liên tục, từ 9.800 ha lên 52.500 ha (2004). Diện tích hồ tiêu tập trung chủ yếu ở Đông Nam bộ (26.810 ha, 55%), Tây Nguyên (14.900 ha, 31%) và Duyên hải miền Trung (6.410 ha, 13%). Từ năm 2003 đến nay, Việt Nam trở thành nước sản xuất, xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới (chiếm 35% sản lượng và gần 50% thị phần thế giới) (VPA, 2012). Năng suất hồ tiêu trung bình cả nước năm 2011 đạt 2,4 tấn tiêu đen/ha, nhưng biến động lớn giữa các vùng trồng tiêu, từ 1,5-5 tấn /ha, cá biệt đạt trên 10 tấn/ha.

Hồ tiêu là cây công nghiệp lâu năm được trồng với mật độ dày 1.500-2.500 trụ/ha và là cây chịu thâm canh nhưng lại rất nhạy cảm với sâu bệnh. Để đạt năng suất cao và có vườn tiêu khỏe cần thiết phải bón đầy đủ và cân đối N-P- K - phân hữu cơ. Các nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, vi lượng cũng cần thiết đối với năng suất và chất lượng hạt tiêu.

Trước đây, những nghiên cứu về bón phân cho cây hồ tiêu còn ít, nông dân bón phân theo kinh nghiệm là chính nên mức đầu tư phân bón cho hồ tiêu rất khác nhau giữa các địa phương. Những năm gần đây do tiêu có giá cao, nông dân có khuynh hướng bón phân vô cơ với liều lượng rất cao so với mức khuyến cáo nhưng thường mất cân đối về tỷ lệ N-P-K, ít quan tâm đến cân đối phân hữu cơ với phân vô cơ đã làm môi trường đất xấu đi. Kết luận từ đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp quản lý tổng hợp dịch hại phát sinh từ đất trên cây hồ tiêu” do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam thực hiện đã khẳng định dịch hại trên cây hồ tiêu có nguồn gốc từ đất, chủ yếu là bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora spp., bệnh chết chậm do nấm Fusarium spp., Pythium spp., tuyến trùng và rệp sáp và là nguyên nhân chính dẫn đến sự không bền vững trong sản xuất hồ tiêu ở nước ta, làm giảm năng suất cây tiêu, giảm tuổi thọ vườn tiêu và thu nhập của nông dân trồng tiêu (Nguyễn Tăng Tôn, 2009).

Nhằm tiếp tục tìm được một số biện pháp giúp khắc phục khó khăn và bất cập trong sản xuất hồ tiêu để nâng cao năng suất, chất lượng phục vụ xuất khẩu, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong sản xuất cây hồ tiêu theo hướng bền vững

2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu

a. Giống tiêu: 

Giống tiêu sẻ, tiêu Lada và tiêu Ấn Độ trong giai đoạn kinh doanh ≥ 4 năm tuổi trồng trên đất đỏ bazan và đất xám, mật độ trồng từ 1.500- 2.500 trụ/ha (tùy theo vùng).

b. Phân bón:

- Phân vô cơ: Phân urê (46% N), Supe lân (16% P2O5), phân KCL (60% K2O)

- Phân hữu cơ: phân bò hoai và một số loại phân hữu cơ sinh học đang sử dụng phổ biến trên ba vùng trồng tiêu; phân Hữu cơ vi sinh vật chức năng-Humix (Hữu cơ vi sinh CN-HM).

- Phân trung lượng: Dolomite (28 - 30% CaO và 18-19% MgO).

- Các vi lượng: Cu, Zn, Bo.

- Chất giữ ẩm: Polimer siêu hấp thụ nước AMS-1

c. Địa bàn và đất nghiên cứu:

- Đông Nam bộ (ĐNB): Lộc Ninh, Bình Phước, đất xám trên phù sa cổ.

- Tây Nguyên: Chư Sê, Lai; đất đỏ bazan

- Duyên hải Bắc Trung bộ: Cam Lộc, Quảng Trị; đất đỏ bazan

Bảng 1. Tính chất đất trước thí nghiệm

Loại đất

pH

KCl

OC

N ts

P2O5 ts

K2O ts

P2O5 dt

CEC

(%)

(%)

(%)

(%)

(mg / 100g)

(lđl / 100g)

Đất xám (Lộc Ninh)

4,2

1,71

0,06

0,12

0,05

11,2

8,8

Đất đỏ bazan (Chư Sê)

5,2

2,62

0,19

0,21

0,33

3,94

10,1

Đất đỏ bazan (Cam Lộc)

5,1

2,60

0,18

0,22

0,34

6,5

14,5

1.2. Nội dung nghiên cứu

- Liều lượng và loại phân hữu cơ cân đối với phân vô cơ. - Hiệu lực phân Hữu cơ vi sinh phối hợp với chất giữ ẩm.

- Hiệu lực của một số yếu tố trung lượng bón rễ và vi lượng bón qua lá.

1.3. Phương pháp nghiên cứu

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức ngẫu nhiên (RCD), 20 trụ tiêu/công thức, số trụ được đánh dấu theo dõi cố định/ô là 6 trụ. Thí nghiệm bố trí tại 01 điểm cố định và được theo dõi liên tục 3 năm.

- Biện pháp kỹ thuật áp dụng chung: Nền phân NPK được kế thừa từ nghiên cứu trước, áp dụng riêng cho từng vùng, cụ thể như sau:

+ 350 kg N - 100 kg P2O5 - 320 kg K2O/ha cho đất đỏ bazan - Tây Nguyên

+ 200 kg N - 100 kg P2O5 -150 kg K2O/ha cho đất đỏ bazan - Quảng Trị

+ 300 kg N-150 kg P2O5 -225 kg K2O/ha cho đất xám/phù sa cổ - Đông Nam bộ

Bảng 2. Kỹ thuật bón phân NPK cho cây hồ tiêu

Loại phân

Lượng bón theo thời kỳ, %

Mùa khô

Đầu mùa mưa

Giữa mùa mưa

Cuối mùa mưa

tháng 2

tháng 5-6

tháng 8-9

tháng 11-12

Urê

15

30

30

25

Lân

 

100

   

Kali

 

30

35

35

Phương pháp bón phân cho cây hồ tiêu: Đào quanh tán theo kích thước (rộng x sâu) = (10 x 5 cm), chú ý: hạn chế làm đứt rễ tiêu, bón xong lấp đất. Phân bò được bón 01 lần/vụ vào đầu mùa mưa (tháng 4-5); Phân Hữu cơ sinh học và Hữu cơ vi sinh -HM được bón 02 lần/vụ, mỗi lần 50% vào đầu mùa mưa (tháng 4-5) và cuối mùa mưa (tháng 10-11). Phân hóa học bón theo mép tán lá, sau đó xới nhẹ và lấp đất (nếu đất khô phải tưới).

- Chỉ tiêu theo dõi: i) Một số chỉ tiêu lý, hóa học đất trước và sau thí nghiệm; ii) Yếu tố cấu thành năng suất, dung trọng và năng suất hạt và iii) Hiệu quả kinh tế.

- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng chương trình EXCEL và phần mềm thống kê sinh học MSTATC.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1. Nghiên cứu liều lượng và dạng loại phân hữu cơ cho cây hồ tiêu

1.1. Vùng Đông Nam bộ

Bảng 3. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến yếu tố cấu thành năng suất hồ tiêu trên đất xám Lộc Ninh, Bình Phước

Công thức

Nền (kg/ha): 300N - 150 P2O5 - 225 K2O

Số gié/trụ (gié)

Dung trọng hạt tiêu (g/lít)

2010

2011

2012

2010

2011

2012

1. Nền NPK + 10 tấn phân bò -ĐC

1.523

1.836 c

2.060

487

504

492

2. Nền NPK + 20 tấn phân bò

1.706

2.180 ab

2.203

504

508

501

3. Nền NPK + 03 tấn Hữu cơ sinh học - HM(1)

1.639

2.092 bc

2.178

510

496

516

4. Nền NPK + 04 tấn Hữu cơ sinh học - HM

1.815

2.364 a

2.405

512

506

522

5. Nền NPK + 03 tấn Hữu cơ vi sinh CN-HM(2)

1.579

2.054 bc

2.274

491

497

512

6. Nền NPK + 04 tấn Hữu cơ vi sinh CN-HM

1.759

2.291 ab

2.416

498

512

503

CV %

12,1

10,6

14,2

5,2

6,3

4,6

LSD 0,05

ns

258

ns

ns

ns

ns

(1) Phân Hữu cơ sinh học-Humix chuyên dùng cho cây hồ tiêu

(2) Phân Hữu vi sinh vật chức năng-Humix

Với khả năng cải thiện độ tơi xốp của đất, phân hữu cơ rất cần thiết cho sự phát triển của rễ tiêu vì rễ tiêu có đặc tính háo khí, không chịu ngập úng (Nguyễn Tăng Tôn, 2005). Phân hữu cơ vừa cung cấp chất dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả phân vô cơ vừa tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có ích tăng mật độ và hoạt lực, tạo cân bằng sinh học cho vùng đất quanh cây tiêu. Với những chức năng ấy, nhiều tác giả cho rằng không bón phân hữu cơ thì không thể thâm canh cây tiêu. Theo Tôn Nữ Tuấn Nam (2005) lượng phân khoáng có hiệu quả kinh tế nhất bón cho cây tiêu là 300N - 150K2O - 225P2O5 (kg/ha) kết hợp với 10 kg phân chuồng/trụ tiêu/năm.

Kết quả nghiên cứu tại Bình Phước cho thấy liều lượng và loại phân hữu cơ có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất tiêu. Trên cùng nền phân NPK, bón 20 tấn phân bò hoai hoặc bón từ 3-4 tấn phân Hữu cơ sinh học hay Hữu cơ vi sinh CN đều làm tăng số gié mang quả (12-21%), tăng dung trọng hạt (3-4%), năng suất hạt cao hơn so với mức bón 10 tấn phân bò từ 10-27%. Bón 4 tấn Hữu cơ sinh học Humix trên nền NPK đạt năng suất liên tục 3 năm cao nhất.

Bảng 4. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất hồ tiêu trên đất xám Lộc Ninh, Bình Phước

Công thức

2017-09-26 11:28:00

Trang liên kết

 

THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
ĐT: (08)38.963.351 -(08)38.963.337
Email: vplib@hcmuaf.edu.vn - Website: http://elib.hcmuaf.edu.vn

Lưu ý: Website xem tốt nhất ở trình duyệt Firefox