Rầy hại cây lúa

Rầy hại cây lúa

 I. Rầy nâu

Tên khoa học: Nivaparvata lugens Stah.

Giới thiệu về rầy nâu

Tên tiếng anh: Brown backed rice plant hopper

Họ: Delphacidae

Bộ: Homoptera

Trưởng thành màu nâu có 2 dạng cánh: Cánh dài phủ kín bụng và cánh ngắn phủ khoảng 2/3 thân. Hai dạng cánh này đơn thuần là sự biến đổi về hình thái, thể hiện điều kiện môi trường thuận lợi nhiều hay ít. Nếu môi trường bình thường sẽ xuất hiện cánh dài với tỉ lệ đực cái là 1:1, còn trong điều kiện môi trường thuận lợi thì xuất hiện rầy cánh ngắn với tỉ lệ đực cái là 1:3.

Trứng hình bầu dục cong, một đầu to, một đầu nhỏ có nắp đậy, trong suốt. Trứng được đẻ trong bẹ lá hoặc gân lá.

Ấu trùng có 5 tuổi, mới nở màu trắng ngà sau thành vàng nâu, thân hình tròn, dài 1-3 mm.

  • Vòng đời: 28-30 ngày

- Trứng: 6-7 ngày

- Ấu trùng: 12-13 ngày

- Trưởng thành: 10-12 ngày

  • Đặc điểm sinh học và gây hại:

Là loại thích sống quần tụ và khả năng năng sống quần tụ cao. Cả rầy non và trưởng thành đều không thích ánh sáng trực xạ nên rầy nâu sống gần gốc lúa, chích hút ngay thân lúa, chỉ khi râm mát rầy trưởng thành mới có ở trên mặt tán lá. Khi bị động có thể nhảy lên các bộ phận khác của cây hoặc rơi xuống nước. Rầy có cánh có xu tính với ánh sáng.

Rầy nâu hại giai đoạn trỗ-chắc xanh, mật độ cao gây ra hiện tượng cháy rầy.

Ngoài ra rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus trên lúa như bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá. Phân của rầy nâu chứa nhiều đường là môi trường cho các loại nấm phát triển gây nên bệnh bồ hóng ở gốc lúa làm cản trở quang hợp

Ruộng lúa bị rầy nâu phá hại

Rầy nâu dùng vòi để chích hút nhựa cây làm cho cây lúa bị khô héo. Khi rầy nâu chích vào lúa, chúng để lại trên lá, thân một vệt nâu cứng, cản trở sự luân chuyển nước và chất dinh dưỡng làm thân, lá bị khô héo. Mật độ cao gây ra hiện tượng cháy rầy.

Biện pháp phòng trừ rầy nâu hại lúa

  • Biện pháp canh tác, kỹ thuật

+ Dùng giống kháng hoặc ít nhiễm rầy. Nếu thuận lợi nên dùng giống ngắn ngày thay cho giống dài ngày.

+ Không bón phân đạm quá nhiều, không sạ cấy quá dày.

+ Gieo cấy tập trung, không gieo cấy lệch thời vụ chính quá nhiều.

+ Hạn chế tối đa việc dùng thuốc trừ sâu, nhất là vào giai đoạn đầu vụ để bảo vệ nguồn thiên địch của rầy.

+ Tạt dầu vào gốc lúa ở những ruộng lúa cao, khó phun xịt.

- Biện pháp sinh học:

+ Khi lúa 4-5 tuần tuổi, có nơi thả cá rô phi, cá mè để diệt rầy nâu hoặc thả vịt vào ruộng lúa diệt rầy

+ Hoặc có thể sử dụng các chế phẩm sinh học về các loại nấm đối kháng của rầy nâu như nấm xanh Metarhizium anisopliea, nấm trắng …/.

  • Biện pháp hóa học

Phun thuốc khi trứng nở được 80% với mật độ > 50 con/khóm

+ Giai đoạn đẻ nhánh - đòng: Dùng các loại thuốc nội hấp và thuốc ức chế sinh trưởng: Cytoc 250WP, Conphai 10WP, Actara 25WG, Asarasuper 250WDG, Wofara 300WG, Onera 300WG, Dantotsu 16 WSG, Chatot 600WG, Applaud 25SC, Aperlaur 100WP…

+ Giai đoạn đòng già - ngậm sữa, chắc xanh: Chỉ dùng các loại thuốc tiếp xúc có hoạt chất Fenobucarb (Bassa 50EC, Azora 350EC, Jetan 50EC, Bascide 50EC, Nibas 50ND…) và nhóm Chlorpyrifos Ethyl (Victory 585EC, Pyrifdaaic 500EC…).

* Phải rẽ lúa 4 hàng/băng; nếu lúa tốt, mật độ rầy cao, rẽ 3 hàng/băng và phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy.

* Chú ý: Tuyệt đối không hỗn hợp nhóm thuốc Pyrethroid (Fastac 5EC, Altach 5EC, Cyperkill 5EC) với các loại thuốc khác ở đầu vụ tránh gây bộc phát rầy cuối vụ và ô nhiễm môi trường.

- Lưu ý: Không nên phun thuốc trừ sâu, rầy trong vòng 30 ngày sau khi sạ, vì đây là khoảng thời gian thiên địch tích lũy, phát triển trên ruộng.

- Sau phun 3 ngày đối với rầy lưng trắng, 1-2 ngày với rầy nâu cần kiểm tra ruộng; nếu mật độ rầy còn > 50 con/khóm phải phun lại.

Để bảo vệ an toàn cho cây lúa khỏi bệnh rầy nâu, đặc biệt là trà lúa Xuân muộn, người dân nên bám sát đồng ruộng, kịp thời phát hiện các xứ đồng có mật độ rầy cao, khoanh vùng và hướng dẫn nông dân phun trừ bằng thuốc đặc hiệu.

II. Rầy lưng trắng

Tên khoa học: Sogatella furcifera Horvath

Tên khoa học: Sogatella furcifera Horvath

Họ: Delphacidae

Bộ: Homoptera

Triệu chứng gây hại:

 

Ruộng bị rầy cây vàng, úa, còi cọc, chết khô, gọi là hiện tượng “cháy rầy”, lúc đầu là từng đám, sau cháy cả vạt, có thể lan rộng ra cả ruộng và cả cánh đồng nếu không phòng trừ kịp thời.

Đặc điểm hình thái: Có 2 loại: Cánh dài và cánh ngắn

- Rầy lưng trắng trưởng thành cánh dài: Có một vệt trắng rõ ràng trên lưng ngực và một chấm đen trên mép cánh.

- Rầy lưng trắng trưởng thành cánh ngắn: Màu xám, bụng thon hơn rầy nâu.

- Rầy non: 5 tuổi, bụng thon hơn. Màu trắng và linh hoạt hơn rầy nâu.

- Trứng: Trong suốt, đẻ ở bẹ, gân lá, ổ giống nải chuối.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và sinh thái:

* Vòng đời: 20 - 30 ngày

+ Trứng: 6 - 7 ngày

+ Rầy non: 12 - 14 ngày

+ Trưởng thành: 10 - 12 ngày

* Đặc điểm sinh học và gây hại:

- Trưởng thành được 4 - 5 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, một trưởng thành đẻ được 400-600 trứng. Có xu tính nhẹ với ánh sáng.

- Rầy non thường tập trung ở gốc sát mặt nước, ít di chuyển. Khi bị động có thể nhảy lên các bộ phận khác của cây hoặc rơi xuống nước. Nhiệt độ thích hợp cho rầy phát triển là 25-30oC, ẩm độ 80-85%.

- Điều kiện môi trường thuận lợi, thức ăn phong phú thì rầy cánh ngắn xuất hiện nhiều; trong điều kiện không thuận lợi (cuối vụ-rầy hết thức ăn) thì rầy cánh dài là chủ yếu.

Khi trưởng thành cánh ngắn xuất hiện nhiều (0,5 - 2 con/khóm) báo hiệu rầy lứa mới sẽ phát sinh thành dịch.

- Một năm có 6-7 lứa. Vụ xuân thường gây hại nặng lứa 2, 3 (tháng 4 - 5). Vụ mùa gây hại nặng lứa 6, 7 (tháng 9 - 10).

- Rầy lưng trắng gây hại giai đoạn đẻ nhánh - đòng làm cây úa vàng và cằn;

- Bón nhiều đạm, cấy to và dầy sẽ bị hại nặng hơn. Ruộng nước ra vào ít (nước tù) sẽ thuận lợi cho rầy phát triển.

Biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Sử dụng giống kháng

+ Cấy dày vừa phải

+ Bón phân cân đối

+ Thả vịt vào ruộng lúa diệt rầy

- Biện pháp sinh học:

- Biện pháp hóa học: Phun thuốc khi trứng nở được 80% với mật độ > 50 con/khóm

+ Giai đoạn đẻ nhánh-đòng: Dùng các loại thuốc nội hấp và thuốc ức chế sinh trưởng: Cytoc 250WP, Conphai 10WP, Actara 25WG, Asarasuper 250WDG, Wofara 300WG, Onera 300WG, Dantotsu 16 WSG, Chatot 600WG, Applaud 25SC, Aperlaur 100WP…

+ Giai đoạn đòng già - ngậm sữa, chắc xanh: Chỉ dùng các loại thuốc tiếp xúc có hoạt chất Fenobucarb (Bassa 50EC, Azora 350EC, Jetan 50EC, Bascide 50EC, Nibas 50ND…) và nhóm Chlorpyrifos Ethyl (Victory 585EC, Pyrifdaaic 500EC…).

* Phải rẽ lúa 4 hàng/băng; nếu lúa tốt, mật độ rầy cao, rẽ 3 hàng/băng và phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy.

* Chú ý: Tuyệt đối không hỗn hợp nhóm thuốc Pyrethroid (Fastac 5EC, Altach 5EC, Cyperkill 5EC) với các loại thuốc khác ở đầu vụ tránh gây bộc phát rầy cuối vụ và ô nhiễm môi trường.

- Sau phun 3 ngày đối với rầy lưng trắng, 1-2 ngày với rầy nâu cần kiểm tra ruộng; nếu mật độ rầy còn > 50 con/khóm phải phun lại.

Nguồn: camnangcaytrong.com

2017-09-28 15:14:00

Trang liên kết