MỘT SỐ ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ CÂY KHỔ QUA RỪNG

MỘT SỐ ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ CÂY KHỔ QUA RỪNG

 Khổ qua rừng hay còn goi là mướp đắng rừng, chúng mọc hoang dại hoặc được trồng ở vùng nhiệt đới, đặc biệt ở Trung quốc, Ấn Độ, Đông Phi, Trung và Nam Mỹ và vùng Caribbean, Việt Nam. Mướp đắng thuộc họ bầu bí (Cucubitaceae), chi (genus) mướp đắng, loài momordica charantia. Là một cây nhỏ leo hàng năm với những chiếc lá xẻ thùy dài, hoa màu vàng, và, (Lee,SY., và cs; 2009).

Hình minh họa

Hình minh họa

I. SƠ LƯỢC MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA KHỔ QUA RỪNG
            Khổ qua rừng hay còn goi là mướp đắng rừng, chúng mọc hoang dại hoặc được trồng ở vùng nhiệt đới, đặc biệt ở Trung quốc, Ấn Độ, Đông Phi, Trung và Nam Mỹ và vùng Caribbean, Việt Nam. Mướp đắng thuộc họ bầu bí (Cucubitaceae), chi (genus) mướp đắng, loài momordica charantia. Là một cây nhỏ leo hàng năm với những chiếc lá xẻ thùy dài, hoa màu vàng, và, (Lee,SY., và cs; 2009).
            Khổ qua rừng có vị đắng hơn, trái, lá và hoa đều nhỏ hơn so vơi khổ qua đã được lai tạo và trồng phổ biến hiện nay. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng các chất được liệu có trong khổ qua rừng cao hơn. Tuy nhiên ở Việt Nam thì cả mướp đắng thông thường và khổ qua rừng đều được sử dụng như là món rau ăn hàng ngày đặc biệt là quả của chúng. Chỉ một số ít người xem khổ qua rừng là một dược liệu thiên nhiên có tác dụng rất lớn cho sức khỏe.
            So với  mướp đắng nhà thì mướp đắng rừng rất giàu khoáng chất bao gồm kali, canxi, kẽm, magiê, phốt pho và sắt, một lượng cao vitamin C, vitamin A, vitamin E, vitamin B1, B2 và B3, cũng như vitamin B9 và là một nguồn chất xơ (dưa đắng "chuyên khảo", 2008). Giá trị chữa bệnh của mướp đắng rừng đã được xem là nhờ tính chống oxy hóa cao và một phần do phenol, flavonoid, isoflavones, tecpen, anthroquinones, và glucosinolates, tất cả các chất đó tạo nên  vị đắng đặc trưng cho mướp đắng (Snee,LS., va cs, 2010; Bakare, RI., và cs, 2010 )
            Có nhiều hợp chất có dược tính tìm thấy trong khổ qua như:  Alkaloid, charantin, charine, cryptoxanthin, cucurbitins, cucurbitacins, cucurbitanes, cycloartenols, diosgenin, axit elaeostearic, axit lauric, axit linoleicid acid linolenic, momordenol, momordicilin, momordicins, momordicinin,momordicosides,momordin, multiflorenol, acid myristic, nerolidol, acid oleanolic, axit oleic, axit oxalic, pentadecans, peptide, axit petroselinic, polypeptide, protein ribosome khử hoạt tính protein, acid rosmarinic, rubixanthin, spinasterol, glycosides steroid, stigmasta-diol, stigmasterol, taraxerol, trehalose, chất ức chế trypsin, uracil, vacine, v-insulin, verbascoside, vicine, zeatin, riboside zeatin, zeaxanthin, và zeinoxanthin. Trong đó những hoạt chất làm giảm lượng đường trong máu bao gồm hỗn hợp các saponin steroid được biết đến như charantins, peptide insulin, và ancaloit.  
            Tuy nhiên cần cân nhắc khi sử dụng mướp đắng đối với các trường hợp sẩy thai, điều trị kinh nguyệt, giảm ham muốn tình dục, vô sinh nữ. Vì có thể làm tăng các triệu chứng của bệnh (Mahomoodally,M .,và cs, 2010; Cunnick, J., và cs, 1993 )
            Tùy thuộc vào mục đích điều trị (ví dụ, huyết áp cao, tiểu đường, tiêu chảy, sốt, nhiễm nấm da, đường tiêu hóa đau bụng, bệnh vẩy nến, tăng lipid máu, bệnh trĩ, bệnh tăng nhãn áp để người ta chọn các bộ phận của mướp đắng làm dược liệu như lá, hoa quả, toàn bộ cây, nước trái cây sấy khô hoặc tươi , (Tori Hudson, 2010)
            Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng mướp đắng để làm giảm hàm lượng đường trong máu trên động vật và một số ở người. Theo đó biểu hiện lượng đường máu giảm được ghi nhận sau khi uống 30 phút, đạt cực đại sau 4 giờ và kéo dài 12h. Một thí nghiệm tiêm dịch chiết mướp đắng trên các bệnh nhân đái đường Type 1 (injections of bitter melon extract). Kết quả cho thấy sau tiêm 30-60 phút hàm lượng đường glucose trong máu giảm 21,5%, 4-12 giờ giảm 28% so với hàm lượng đường cơ sở trong máu (Baldwa, V, 1977)
            Một thử nghiệm ở những người đái đường type 2 trong 3 tuần với hai chế độ điều trị như sau: Trường hợp 1: Dùng 100g mướp đắng thái nhỏ, đung sôi trong 200 ml nước và lấy cạn đến 100ml. Mỗi ngày uống một lần. Trường hợp 2: 5g bột trái cây sấy khô uống 3 lần/ngày. Sau 21 ngày kết quả cho thấy trường hợp dùng bột trái, hàm lượng đường giảm 25%, còn nhóm uống dịch chiết hàm lượng đường giam đến 54% và nồng độ HbA1c ( phức hợp hemoglubin với đường glucose hay glycosylated hemoglobin) giảm từ 8,37 xuống đến 6,95. Đây là những kết quả đầy hứa hẹn đối với những bệnh nhân đái đường. (Srivastava,Y ., và cs, 1993)
            Nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy dịch chiết khổ qua gây ức chế sự xâm nhập tế bào của virus HIV, giảm sự lây nhiễm của tế bào lympho T với virus này. Đồng thời dịch chiết mướp đắng cũng gây ức chế sự phát triển của một số chủng loại virus khác, (Wang, Y., và cs, 1999; Baby Joseph và D Jini , 2004)
            Mướp đắng có chứa một loạt hóa chất hoạt tính sinh học bao gồm triterpenes, protein, và steroid. Trong đó một số hoạt chất đã được kiễm chứng lâm sàng có khả năng ức chế các men guanylate cyclase mà được cho là có liên quan đến nguyên nhân gây ra bệnh vẩy nến và cũng cần thiết cho sự phát triển của bệnh bạch cầu và ung thư tế bào. Ngoài ra, một loại protein được tìm thấy trong mướp đắng, cũng đã được kiễm chứng lâm sàng có hoạt tính chống u lympho Hodgkin ở động vật.
             Các protein khác trong khổ qua như alpha và beta-momorcharin và cucurbitacin B được thử nghiệm và đều cho thấy có khả năng chống khối u . Các protein của mướp đắng đã được chiết xuất và đặt tên là "MAP-30”, sản phẩm đã được cấp bằng sáng chế. MAP-30 có thể ức chế sự phát triển khối u tuyến tiền liệt. Hai trong số các protein alpha-và beta-momorcharin có khả năng ức chế virus HIV. Nghiên cứu trong ống nghiệm với tế bào nhiễm HIV được điều trị bằng alpha và beta-momorcharin cho thấy kháng nguyên  của virus bị bất hoạt hoàn toàn, trong khi các tế bào khỏe mạnh không bị ảnh hưởng từ đó các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận là sản phẩm MAP-30 hữu ích cho việc điều trị khối u và nhiễm HIV.... (Fan, J., và cs, 2009; Jiratchariyakul, W., và cs, 2001)
II. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KHỔ QUA RỪNG Ở VIỆT NAM
            Ở  Việt Nam, cây khổ qua rừng chủ yếu được thu hái từ những cây mọc tự nhiên. Sản phẩm được sử dụng chủ yếu là quả và ngọn, còn hạt cây khổ qua hầu như được bỏ đi. Gần đây một số hộ sản xuất kinh doanh đã đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, sản phẩm được đăng ký an toàn thực phẩm và được tiêu thu ở các siêu thị trên nhiều tỉnh thành. Tuy nhiên nhìn chung thì cây khổ qua rừng được người Việt Nam nhìn dưới góc độ là một loại rau đơn thuần nên thích thì ăn không thích thì thôi và vô tình chúng ta đã quên đi vai trò chữa một số bệnh nan y của cây khổ qua rừng.
III. YÊU CẦU SINH THÁI 
*  Đất
            Khổ qua rừng mọc được trên nhiều loại đất,  nhưng tốt nhất là đất đỏ bazan, tầng đất canh tác sâu, tơi xốp, thoáng (không úng), màu mỡ, nhiều hữu cơ.
            Nên trồng trên các loại đất không quá phèn, độ pH thích hộ 6-6,5.
 
 
*  Nhiệt độ
            Khổ qua rừng cần nhiệt độ ấm áp 20-300C, nhưng thích hợp nhất là 22-250C, nếu nhiệt độ dưới 150C hoặc trên 350C thì cây kéo dài thời gian sinh trưởng và giảm năng suất. Vì vậy mùa lạnh cần tưới nước ấm để tạo nhiệt độ tốt cho hạt nảy mầm, nếu gieo hạt vào thời điểm lạnh trong năm cũng cần được phủ rơm để đất ấm, hạt dễ nảy mầm.
*  Nước và lượng mưa
Cần cung cấp đủ nước cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, quan trọng nhất là giai đoạn ra hoa tạo quả, giai đoạn này quyết định tất cả năng suất. Tránh trường hợp để ruộng khô hạn trong mùa khô và ngập úng trong mùa mưa.
* Yêu cầu về giàn leo
            Khổ qua rừng là loại cây thân leo họ Bầu bí, do đó việc làm giàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất cũng như chất lượng trái khổ qua. Hiện tại chưa có nghiên cứu, đánh giá kỷ thuật canh tác về cây khổ qua rừng cụ thể nào làm cơ sở cho người sản xuất, đặc biệt là phương pháp làm giàn.
III. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ CHẾ BIẾN
3.1. Kỷ thuật trồng và chăm sóc
*  Làm đất
            Đất trồng được cày bừa kỹ, tơi xốp, san bằng phẳng và tơi nhỏ. Đồng thời làm sạch cỏ và tàn dư thực vật. Bón phân lót (toàn bộ phân Lân và phân  chuồng) nhằm tạo thoáng khí cho bộ rễ phát triển tốt.
Đất được cày sâu 30 cm, làm đất tơi xốp, dọn sạch cỏ dại trước khi gieo hạt, sau đó chia rãnh, đánh rãnh, lên luống theo diện tích thí nghiệm.
*  Khoảng cách
            Khoảng cách: 150 x100 cm
*  Phân bón
            Liều lượng: phân bón cho 1 ha: 2-3 tấn phân chuồng +10-15 kg N +15-20 kg DAP + 50-60 kg P2O, NPK: (20-20-15) 90 – 100 kg, 50-80 kg vôi.
            Cách bón:  Lót toàn bộ phân chuồng + 100% vôi + 100 % lân.
            Bón thúc:
            - Đợt 1: 10-15 (NSG) với liều lượng phân 5 kg N + 10 kg DAP.
            - Đợt 2: 20-25 (NSG) với liều lượng phân 5kg Urea + 10kg DAP + 30kg NPK.
            - Đợt 3: (35-40 NSG) với liều lượng phân 50kg NPK.
*  Chăm sóc
            Thực hiện xới xáo, chăm sóc, tỉa, làm cỏ, bón thúc, phòng trừ sâu bệnh định kỳ :
                        - Xới vun: Sau khi trồng 7-10 ngày, cây có 6-7 lá thật, xới nhẹ phá váng và tiến hành cắt ngọn. Từ nách lá sẽ đâm nhánh cấp 1.
                        - Tưới nước: Ngay sau khi gieo cần tưới nước đủ ẩm (80% độ ẩm đồng ruộng) để hạt mọc đều. Vào thời kỳ ra hoa cây cần độ ẩm đồng ruộng 80-90% đảm bảo cho cây phát triển tốt và đảm bảo năng suất. Cần đảm bảo độ ẩm thường xuyên trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây, nếu đất khô thì cần phải tưới. Cụ thể mùa nắng tưới 1lần/ ngày, thời kỳ ra hoa tưới 1-2 lần/ ngày tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và tính chất đất.
                        - Phòng trừ sâu bệnh: Cây Khổ qua rừng thường bị một số loại sâu bệnh hại như  cào cào, sâu cắn lá, đục quả, bệnh thối gốc. Tuy nhiên đây là những sâu bệnh tương đối dễ phòng trừ, do đó nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của sâu bệnh hại cũng như ảnh hưởng của thuốc tời giá trị tiêu dung của trái khổ qua, chúng ta nên thực hiện phòng trừ ngay từ đầu. Nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc sinh học như thuốc trừ sâu sinh học, chế phẩm sinh học. Trong thí nghiệm, trước khi trồng, đất được bón nấm Trichoderma, sau khi cây mọc được 10 lá chúng tôi thực hiện phun phòng sâu và côn trùng cắn phá lần 1. Sau 15 -20 ngày phun phòng lần kế tiếp. Cho đến khi cây ra hoa chúng tôi ngừng phun thuốc. Thuốc được sử dụng có chứa hoạt chất trừ sâu sinh học Emamectin.           
3.2.  Thu hoạch và chế biến
            Tùy theo mục đích, bộ phận sử dụng và phương pháp chế biến để chọn thời gian thu hoạch khổ qua thích hợp
- Khổ qua thu tươi
Sau khi thụ phấn 28-30 ngày, quả chín sinh lí bắt đầu thu hoạch và cứ khoảng 3-5 ngày thu hoạch 1 lần. Sau khi thu hoạch trái khổ qua tươi sẽ được bán ra thị trường tùy người tiêu dụng sử dụng chế biến theo sở thích.
Nếu thu để phơi, sấy khô thì ta để thêm 3- 5 ngày nữa, khi trái khổ qua bắt đầu xuất hiện màu vàng. Thực hiện thu hái, sau đó đem phơi hoặc sấy khô, sản phẩm dạng này chủ yếu được dùng làm trà để uống. Tuy nhiên do giá thành cao, ít người sử dụng nên hiện tại sản phẩm dạng này đang rất hạn chế.
- Ngọn khổ qua rừng
            Hầu hết diện tích trồng khổ qua hiện nay chủ yếu kết hợp thu ngọn và trái. Ngọn khổ qua rừng là món rau có giá thành cao và được người tiêu dùng sử dụng hằng ngày. Sau khi ngọn non dài 5-10 cm chúng ta có thể thu hái. Sản phẩm được vận chuyển trực tiếp ra chợ gần để tiêu thụ, nếu đi xa cần đóng gói và bảo quản lạnh.
 
 
- Các bộ phận khác của cây khổ qua rừng
            Cảnh già, thân khổ qua rừng có thể được tận thu, đem phơi hoặc sấy khô. Tùy theo mục đích sử dụng để chế biến và đóng gói sản phẩm.
V. Ảnh hưởng của phương pháp làm giàn đến năng suất khổ qua rừng.
            Nhằm đánh giá ảnh hưởng của phương pháp làm giàn đến năng suất trái khổ qua rừng, chúng tôi đã thực hiện thí nghiệm đồng ruộng trên nền đất xám tại Đồng Xoài
5.1. Thí nghiệm
* Thời gian từ tháng 12/2014 đến tháng 04/2015.
* Công thức: 4 công thức (nghiệm thức)
            CT 1: A1, A2, A3 -Giàn tam giác
            CT 2: B1, B2, B-Không làm giàn
            CT 3: C1, C2, C3- Giàn chữ nhật
            CT 4: D1, D2, D3- Giàn hai tầng
* Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố với 3 lần lặp lại và 4 nghiệm thức.
                                                     Chiều biến thiên
Hàng bảo vệ
Hàng bảo vệ B1 C2 A3  
Hàng bảo vệ
C1 D2 B3
D1 A2 C3
A1 B2 D3
Lặp lại 1 Lặp lại 2 Lặp lại 3
Hàng bảo vệ
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm.
5.2. Kết quả
            Sau khi theo dõi, tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm SAS 9.1 1. Kết quả được thể hiện qua bảng 4.8
 
 
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của Giàn đến năng suất thực tế (kg/ha) và năng suất lý thuyết 
                 (kg /ha)
Công thức
thí nghiệm
 
Chỉ tiêu
Năng suất thực tế
kg/ha )
Năng suất lý thuyết (kg/ha)
CT 1 2723.4 b 2935.5b
CT 2 2706.5b 2885.2b
CT 3 2946.7a 3153.8 a
CT 4 2765.5ab 2943.2ab
CV % 3.3 2.1
 
Ghi chú: Các công thức giống nhau được biểu thị cùng một chữ cái, các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai kháccó ý nghĩa thống kê cho năng suất thực tế (kg/ha)ở mức 0.05  và năng suất lý thuyết (kg /ha ) ở mức 0.01.
 
Từ bảng 4.8 ta dễ nhận thấy:
- Năng suất lý thuyết:                     
            Các công thức thí nghiệm trên có năng suất lý thuyết biến động trong khoảng 2885,2 – 3153,8 (kg/ha), công thức có năng suất lý thuyết cao nhất là công thức 3 (kiểu giàn chữ nhật) :3153,8 kg/ha, công thức có năng suất lý thuyết thấp nhất là công thức 2 (không làm giàn): 2885,2 kg/ha.
- Năng suất thực tế:
Các công thức thí nghiệm với mật độ khác nhau thì cho năng suất thựcthu khác nhau. Giữa các công thức thí nghiệm khác nhau có sự sai khác có ý nghĩa thống kê. Các công thức thí nghiệm có năng suất thực thu biến động trong khoảng 2706.5- 2946.7 kg/ha, công thức có năng suất thực thu cao nhất là công thức 3 (kiểu giàn chữ nhật) là  2946.7 kg/ha. Công thức có năng suất thực thu thấp nhất là công thức 2 (không làm giàn) là 2706.5 kg/ha. 
 Qua Một số kết quả nghiên cứu, đặc tính sinh lý và yêu cầu sinh thái của cây khổ qua rừng ta thấy :
Cây khổ qua rừng là cây rau, cây dược liệu có tác dụng rất lớn đối với sức khỏe của con người, đặc biệt trong ngăn ngừa và điều trị bệnh đái đường, cao huyết áp. Là chất kháng sinh tự nhiên làm tăng đề kháng cho sức khỏe. Tuy nhiên cần cân nhắc sử khi sử dụng thường xuyên đối với người gặp vấn đề về sinh sản, phụ nữ mang bầu.
Bình Phước là tỉnh có điều kiện sinh thái phù hợp để phát triển cây khổ qua rừng cả về số lượng cũng như chất lượng. Khổ qua rừng có thể được trồng để thu ngọn, thu trái, và tận thu toàn thân. Trong đó đối với trồng khổ qua để thu quả thì phương pháp làm giàn hình chữ nhật (bẻ cạnh góc vuông) là cho năng suất cao hơn những kiểu giàn khác./.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Chính Việt

2017-10-12 10:27:00

Trang liên kết