Sâu đục thân hại cây lúa

Sâu đục thân hại cây lúa

 I. Sâu đục thân bướm 2 chấm

Tên khoa học: Scirpophaga incertulas Walker

Họ: Ngài sáng (Pyralidae)

Bộ: Cánh vảy (Lepidoptera)

Sâu đục thân bướm 2 chấm và biện pháp phòng trị

Ruộng lúa bị sâu đục thân

Đặc điểm gây hại của sâu đục thân bướm 2 chấm:

Sâu đục thân gây hại biến đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và tuổi phát dục của sâu.

 Sâu đục thân bướm 2 chấm và biện pháp phòng trị

Hình ảnh bướm 2 chấm và sâu đục thân lúa

- Thời kỳ mạ: Sâu đục qua bẹ phía ngoài vào đến nõn giữa phá hại làm cho dảnh lúa bị héo.

- Cây lúa ở thời kỳ đẻ nhánh: sâu đục vào phần dưới của thân, cắt đứt tổ chức bên trong phá hại chức năng dẫn nhựa làm cho lá non trước tiên bị cuốn dọc, có màu xanh tái sẫm, dần chuyển sang màu vàng và héo khô.

- Thời kỳ sắp trỗ hoặc mới trỗ: sâu đục qua lá bao của đòng chui vào giữa rồi bò xuống đục ăn điểm sinh trưởng, cắt đứt các mạch dẫn dinh dưỡng làm cho bông lép trắng.

Đặc điểm hình thái của sâu đục thân bướm 2 chấm: 

Sâu đục thân bướm 2 chấm và biện pháp phòng trị 3- Trứng: hình đẻ thành ổ hình bầu dục, trên mặt phủ lớp lông màu vàng nhạt, ở giữa nhô lên. Mới đẻ trứng có màu trắng, sau chuyển ngà vàng, sắp nở màu đen.

- Sâu non: đẫy sức màu trắng sữa, đầu màu nâu vàng. Chân bụng ít phát triển, móc bàn chân bụng có 28 cái xếp thành hình elip.

- Nhộng: con cái có chân sau dài hết đốt bụng 5, còn con đực có chân sau dài tới đốt bụng 8. Nhộng mới hóa có màu trắng sữa, sau chuyển màu vàng nhạt.

- Con trưởng thành:

+ Ngài đực có đầu ngực và cánh trước màu nâu vàng nhạt hình tam giác; giữa cánh có một chấm đen; từ đỉnh cánh đến mép sau có một vệt xiên màu nâu đen, mép ngoài cánh có 9 chấm đen nhỏ; mắt kép, to đen.

+ Ngài cái có thân màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, cuối bụng có chùm lông màu vàng nhạt, giữa cánh trước có một chấm đen.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại:

* Vòng đời:

+ Vòng đời trung bình của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm từ 43 - 66 ngày.

+ Ở 19 - 250C: Trứng: 8 - 13 ngày; sâu non: 36 - 39 ngày, nhộng: 12 - 16 ngày, bướm vũ hóa - đẻ trứng: 3 ngày.

+ Ở 26 - 300C: Trứng: 7 ngày; sâu non: 25 - 33 ngày, nhộng: 8 - 10 ngày, bướm vũ hóa - đẻ trứng: 3 ngày.

* Đặc điểm sinh học và gây hại của sâu đục thân bướm 2 chấm:

- Sâu non qua đông tới mùa xuân hóa nhộng.

- Nhộng hóa trong gốc thân lúa ở dưới mặt đất 1 - 2 cm. Trước khi hóa nhộng sâu đục sẵn một lỗ ở thân lúa, chừa lại một lớp biểu bì mỏng để khi vũ hóa đục chui ra.

Sâu đục thân phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ từ 2-30oC, độ ẩm trên 90%.

- Khả năng gây dảnh héo và bông bạc của sâu non từ một ổ trứng là 12 dảnh khi lúa đẻ nhánh và 9,2 bông bạc khi lúa trỗ (khi mật độ ổ trứng thấp hơn 5 ổ/ m2).

- Lúa ở thời kì đẻ nhánh rộ, nhất là thời kì làm đòng - trỗ là giai đoạn xung yếu với sâu đục thân. 

- Trong một năm sâu đục thân có 7 lứa trong đó lứa 2, 3, 5, 6 có ý nghĩa lớn đối với sản xuất. Lứa 2 là lứa cuối trong vụ chiêm xuân và cũng là lứa sâu quan trọng nhất về mặt số lượng, mức độ gây hại và là nguồn sâu chuyển từ vụ chiêm xuân sang vụ mùa. Lứa 3 là lứa đầu tiên trong vụ mùa , thường tập trung phá trên mạ mùa sớm. Đây là lứa sâu bắc cầu từ lúa chiêm xuân qua lúa mùa. Lứa 5 là lứa gây hại quan trọng đối với lúa mùa cấy sớm đang làm đòng trỗ bông. Lứa 6 là lứa gây hại nặng cho lúa mùa đại trà đang trỗ nhất là trên lúa nếp, tám.

Kẻ thù tự nhiên của sâu đục thân hai chấm:

+ Các loài ong ký sinh đã phát hiện trên trứng sâu đục thân bướm hai chấm: Ong Trichogramma japonicum Ashmead; Tri. dendrolimi Mats; Tri. chilonis Tschii; Telenomus rowani Gahan; T. dignus Gahan; Tetrastichus schoenobii Ferrier.

+ Loài Tetrastichus thường xuất hiện và ký sinh với tỷ lệ cao và những tháng nhiệt độ thấp, các loài ong khác thì vào những tháng ấm và nóng

+ Ngoài giai đoạn trứng bị kí sinh, sâu non cũng có thể bị nhiều loài ong kí sinh khác. Năm 2000 ở Nghệ An đã phát hiện 14 loài thiên địch của sâu đục thân bướm 2 chấm (Trần Ngọc Lâm, 2000).

 

Ong Trichogramma japonicum Ashmead (Nguồn Internet)

Biện pháp phòng trừ sâu đục thân bướm 2 chấm:

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Cày lật gốc rạ, ngâm nước, làm dầm kịp thời (đặc biệt đối với lúa vụ mùa sau khi gặt). Tránh tình trạng để tới tháng 1 - 2 đầu năm mới tiến hành cày.

+ Khi thu hoạch lúa cần cắt sát gốc rạ. Rơm rạ trên ruộng sau khi gặt cần được thu dọn gọn

+ Bón phân cân đối theo quy trình kỹ thuật quy định cho từng vụ, từng chân đất, từng giống lúa. Hạn chế sử dụng phân đạm quá liều lượng và bón không đúng cách dẫn đến tình trạng lúa lốp hoặc đẻ lai rai tạo điều kiện cho sâu phá hoại mạnh.

+ Nếu đều kiện tưới tiêu chủ động có thể điều chỉnh mực nước ở ruộng để diệt sâu.

+ Theo dõi các đợt bướm ra quanh năm tổ chức đốt đèn bẫy bướm trên diện rộng đồng loạt - cùng một thời gian.

+ Ngắt ổ trứng sâu gom lại và đem tiêu hủy.

- Biện pháp sinh học:

+ Phát huy tác dụng của nhóm thiên địch nhất là ong ký sinh trứng.

- Biện pháp hóa học: Thuốc trừ sâu đục thân đặc hiệu hiện nay chủ yếu có 2 nhóm:

+ Nhóm chlorantranliprole (DupontTM Prevathon, Virtako,Voliam targo. Nhóm này có tác dụng nội hấp.

+ Nhóm chlopyriphos Ethyl có tác động tiếp xúc thấm sâu hiệu quả phòng trừ tốt nhưng độ độc cao gây bộc phát rầy cuối vụ.

- Thời điểm phun thuốc thích hợp nhất:

Phun hiệu quả nhất là vào thời điểm lúa trỗ (sau khi bướm có mật độ cao 7 ngày, mật độ ổ trứng ≥0,2 ổ/m2).

Sâu đục thân bướm 2 chấm và biện pháp phòng trị 4

Mặc dù sâu đục thân 2 chấm gây hại cho lúa từ giai đoạn mạ đến đẻ nhánh, đòng, trỗ xong. Tuy nhiên trong giai đoạn đẻ nhánh cây lúa có khả năng đền bù, giai đoạn đòng trỗ cây không có khả năng đền bù, mặt khác vào giai đoạn này khả năng xâm nhập vào cuống rơm của đòng là dễ nhất và thiệt hại vào thời kỳ này cũng là cao nhất. Khi bướm có mật độ cao sau 7 ngày trứng mới nở trùng với thời kỳ lúa trỗ bông (thời gian lúa trỗ cũng thường 5 - 7 ngày). Nếu mật độ ổ trứng ≥0,2 ổ/m2 phun 1 lần và khi ổ trứng≥1,0 ổ/m2 phải phun kép, lần 2 cách lần trước từ 5-7 ngày.

Việc phun thuốc trừ sâu đục thân phải chọn thời điểm đúng mới đem lại hiệu quả cao. 

II. Sâu đục thân 5 vạch đầu đen

Tên khoa học: Chilo polychrysus Meyrik Chilo polychrysa Meyrik

Họ: Pyralidae

Bộ: Lepidoptera

Triệu chứng gây hại của sâu đục thân 5 vạch đầu đen

- Thời kỳ mạ: từ khi còn nhỏ bị phá hại có thể bị chết khô, nếu cây mạ đã lớn bị hại thì dễ bị đứt gốc khi nhổ mạ

- Thời kỳ đẻ nhánh: cây lúa bị hại có biểu hiện rõ: sâu đục vào phần dưới của thân, cắt đứt tổ chức bên trong phá hại chức năng dẫn nhựa làm cho lá non trước tiên bị cuốn dọc, có màu xanh tái sẫm, dần dần chuyển thành màu vàng và héo khô

- Thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu: cây lúa bị hại tuy có thể hình thành dảnh mới và thành bông nhưng trọng lượng ngàn hạt đều kém so với cây khỏe

- Thời kỳ lúa đứng cái và đòng non: sâu tập chung phá hại phía trong bẹ và dịch vào ống, có khi phá nát đòng non.

- Cuối thời kỳ làm đòng và bắt đầu trỗ: sâu đục vào phần cuống đòng cắt đứt sự vận chuyển dinh dưỡng của bông lúa, hoặc nếu sâu non tuổi nhỏ tập chung cắn nát đòng thì bông lúa không trỗ.

Ruộng lúa trổ bị sâu đục thân (bông lép trắng)

Đặc điểm hình thái sâu đục thân 5 vạch đầu đen

- Ngài đực: có đầu ngực màu nâu vàng có điểm màu nâu tối; bụng màu nâu xám; râu hình răng cưa; cánh trước màu vàng nâu có phẩy màu nâu đậm, giữa cánh có 4 đốm nâu thẫm óng ánh xếp theo hình ”>” và trên các đốm có pha các vảy óng ánh bạc và vàng kim; phía trong và ngoài buồng giữa cánh có một số phiến vảy nâu ánh kim; cùng với đường vân ngoài của cánh có một vệt đai rộng màu nâu, ở đường vân phụ ngoài có dãy chấm đen, nâu đậm, ở vị trí đường mép ngoài cánh có 7 chấm đen. Cánh sau màu nâu vàng nhạt, lông viền cánh màu bạch trắng.

- Ngài cái: có thân dài hơn ngài đực, râu đầu dạng sợi chỉ màu tro và màu nâu xám xen kẽ nhau; cánh trước màu vàng, có đốm nhỏ giữa cánh bé hơn so ngài đực và màu cánh nhạt hơn, các đặc điểm khác không rõ bằng ngài đực; cánh sau tương tự ngài đực.

- Trứng: hình bầu dục dẹt, mới đẻ màu trắng, sau chuyển màu vàng nhạt, vàng tro; trước lúa nở 1-2 ngày thể hiện rõ điểm đen. Trứng đẻ thành từng ổ theo dạng vẩy cá, thường từ 1-3 hàng, nhiều nhất 5 hàng trên mặt lá.

- Sâu non: đẫy sức có đầu màu đỏ đậm tối hoặc đen; mặt bụng của ngực trắng mờ xen lẫn vàng nhạt hoặc nâu nhạt; mảnh lưng ngực trước nâu đen, lưng có 5 vạch dọc. Bình thường sâu non có 5 tuổi, cá biệt có 7 tuổi.

- Nhộng: con cái dài hơn nhộng đực. Nhộng mới hóa có màu vàng, mặt lưng có 5 vạch dọc màu nâu gụ. Lỗ thở của bụng hơi lồi, gần mép trước của mặt lưng đốt bụng thứ 5-7 có dẫy chấm nổi, cuối bùng phía lưng có 4 gai xếp thành vòng cung, phía bụng có 2 gai, các gai đều ngắn, thẳng và không có lông.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại của đục thân 5 vạch đầu đen

* Vòng đời: 

Vòng đời của sâu đục thân bướm 5 vạch đầu đen từ 35-60 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ:

+ Thời gian trứng: 4-7 ngày.

+ Thời gian sâu non: 20-41 ngày.

+ Thời gian nhộng: 4-6 ngày.

+ Thời gian ngài vũ hóa đến đẻ trứng: 2-5 ngày.

* Đặc điểm sinh học và gây hại đục thân 5 vạch đầu đen

Ngài của sâu đục thân 5 vạch đầu đen có tính hướng sáng yếu hơn sâu đục thân bướm 2 chấm và vũ hóa về đêm và sau đó giao phối ngay trong đêm đó hoặc đêm sau và sau khi giao phối 1 đêm thì bắt đầu đẻ trứng. Mỗi ngài cái có thể đẻ từ tới 480 trứng trong 3 ngày, một ổ trứng có từ 7-150 quả trứng/ổ và trứng có tỉ lệ nở rất cao. Một năm sâu đục thân 5 vạch đầu đen phát sinh 6 lứa. Điều kiện nhiệt độ ấm nóng và ẩm độ cao thích hợp cho sâu phát sinh gây hại.

Sâu non xâm nhập vào bẹ lá vào thân cắt đứt đường vận chuyển dinh dưỡng làm héo đỉnh sinh trưởng, làm chế cây ở giai đoạn lúa non hoặc bông bạc, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa. Nhộng làm ổ bên trong thân lúa và bướm vũ hóa từ đấy.

Sâu đục thân 5 vạch đầu đen phát sinh gây hại nặng ở vụ lúa xuân sớm; các ruộng chân cao có xu hướng bị hại nặng hơn các ruộng chân vàn (trong vụ xuân), ruộng ẩm ướt, rậm rạp thì sâu phát sinh nhiều hơn so với ruộng hạn. Quy luật phát sinh gây hại tương tự như sâu đục thân 5 vạch đầu nâu. Loại sâu này phân bố khắp các vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới.

Biện pháp phòng trừ (tương tự sâu đục thân 5 vạch đầu nâu)

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Bón cân đối NPK, không nên bón quá nhiều đạm và bón đạm kéo dài.

+ Bố trí cơ cấu mùa vụ thích hợp. Sau khi gặt lúa, cày lật gốc rạ, phơi ải hoặc ngâm nước (làm dầm) để diệt nhộng.

+ Dùng các biện pháp thủ công: ngắt dảnh héo, ổ trứng; bẫy đèn đồng loạt bắt bướm…

- Biện pháp hóa học: Phun các loại thuốc lưu dẫn, vị độc, tiếp xúc, nội hấp như: Padan 95SP, Gegent 800WP...

- Thời điểm phun thích hợp nhất:

Với sâu đục thân 5 vạch đầu đen, đầu nâu và sâu đục thân bướm cú mèo thì thời điểm phòng trừ sớm hơn tốt nhất là từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 5 dương lịch (hoặc thời điểm vừa lúa vừa ngưng đẻ nhánh hữu hiệu, trước khi bón phân đón đòng).

Bởi vì sâu đục thân 5 vạch đầu nâu và đầu đen thích nghi với nhiệt độ thấp hơn so với sâu đục thân bướm hai chấm nên có thể phát sinh liên tục trong các tháng mùa đông. Hai loài sâu đục thân này phá hại từ khi cây lúa ở cuối giai đoạn đẻ nhánh đến khi trỗ. Mỗi năm hai loài sâu này đều xuất hiện 5, 6, 7 lứa và thích hợp với ruộng có mức nước không ngập bẹ lá. Còn sâu đục thân bướm cú mèo mỗi năm xuất hiện 5- 6 lứa. Sâu thích hợp với khoảng nhiệt độ rộng nên phát sinh gây hại tất cả các vụ lúa, kể cả những tháng mùa đông.

+ Không nên dùng thuốc trừ sâu hoà với nước phun khi lúa còn nhỏ và đang ở giai đoạn đẻ nhánh rộ và lúc này lúa vẫn có khả năng đẻ thêm nhánh để bù vào các nhánh bị sâu phá hoại, đồng thời làm như vậy sẽ giết chết các thiên địch của sâu đục thân.

+ Có thể phun thuốc sâu ở ruộng mạ trước khi nhổ cấy hoặc những ruộng trỗ muộn có khả năng bị bông bạc.

+ Ở những vùng thường bị sâu hại dùng thuốc dạng hạt rải khi kúa ngưng đẻ hữu hiệu (35 - 45 ngày sau khi sạ cấy tuỳ giống lúa).

III. Sâu đục thân bướm cú mèo 

Tên khoa học: Sesamia inferens Walker

Họ: Noctuidae

Bộ: Lepidoptera

Triệu chứng gây hại:

Sâu non đục vào thân gây nõn héo/bông bạc. Đôi khi sâu non chỉ hại mặt trong bẹ lá gây úa vàng làm bông lúa bị lép lửng.

Đặc điểm hình thái:

- Ngài: có đầu ngực màu vàng tro, bụng màu nâu nhạt. Râu đầu ngài đực ngắn hình răng lược, ngài cái có hình sợi chỉ. Cánh trước tựa hình chữ nhật nâu nhạt, gần mép ngoài cánh màu hơi đậm. Chính giữa cánh có một vân dọc màu nâu tối. Trên dưới đường vân có 2 điểm đen nhỏ, cánh sau màu trắng bạc, mép ngoài cánh hơi nâu nhạt.

- Trứng: hình bánh bao dục dẹt, đỉnh hơi lõm, bề mặt trứng có khía dạng mạng nhện, mới đẻ màu trắng, gần nở màu tím. Trứng đẻ thành ổ dạng đai xếp thành 2-3 hàng trong bẹ lá.

- Sâu non: đẫy sức có đầu màu nâu đậm, mặt bụng và mặt dưới ngực có màu vàng nhạt, mặt lưng màu tím. Móc chân bụng có 17-21 cái xếp thành một đường có dạng lông mày về phía trong của bụng.

- Nhộng: màu nâu vàng, lưng đậm hơn. Mút cánh về phía mặt bụng có một phần nhỏ tiếp giáp nhau. Đốt bùng 2-7 trừ mép sau của đốt đều có chấm lõm hình vòng nâu đen. Cuối bụng về phía lưng và phía bụng mỗi bên có hai gai lưng màu đen.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại:

* Vòng đời: 

Vòng đời của sâu đục thân bướm cú mèo từ 32-46 ngày:

+ Thời gian trứng: 4 - 6 ngày.

+ Thời gian sâu non: 17 - 29 ngày.

+ Thời gian nhộng: 7 - 12 ngày.

+ Thời gian ngài vũ hóa đến đẻ trứng: 4 - 6 ngày.

* Đặc điểm sinh học và gây hại:

Ngài của sâu đục thân bướm cú mèo có tính hướng sáng nhưng không mạnh bằng bướm sâu đục thân bướm 2 chấm và 5 vạch. Nhộng thường vũ hóa vào buổi tối (từ 6-8h). Ban ngày ngài của loại sâu này thường ẩn nấp ở trong các khóm lúa hoặc cỏ dại, chập tối mới hoạt động. Mỗi con ngài cái có thể đẻ từ tới trên 400 quả trứng trong 5-6 ngày (nhiều nhất là 10 ngày), một ổ trứng có từ 200-270 quả trứng/ổ và tỉ lệ trứng nở khá cao (trên 80%).

Sâu non mới nở tập trung phá mặt trong bẹ lá, sau tuổi 2-3 mới phát tán di chuyển phá hại cây kế cận, thường xâm nhập vào đốt thứ 3-4 thân lúa. Sau tuổi 4 - 5 sức ăn khỏe, sâu chui ra đục đốt khác hoặc thân khác. Là loài có sức ăn khoẻ nên chúng có thể di chuyển sang sang những cánh đồng kế cận để hoàn thành quá trình phát triển của chúng ngày cả khi lúa đã thu hoạch xong. Sâu non đục vào thân, cắt đứt đường vận chuyển dinh dưỡng gây chế đỉnh sinh trưởng hoặc bông bạc. Sâu non đẫy sức có thể hóa nhộng trong thân lúa hoặc ngoài bẹ lá, ngoài mình nhộng bọc bằng sợi xơ thân lúa.

Sâu đục thân 5 vạch đầu đen phát sinh gây hại nặng ở vụ lúa thu đến vụ mùa, xuân chính vụ bị hại nhẹ hơn xuân muộn. Đặc điểm của loài sâu này chịu nóng và chịu lạnh khỏe nên ở vùng núi và trung du sâu này gây hại nặng. Loại sâu này phân bố ở khắp các vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới.

Thiên địch của sâu đục thân cú mèo trên cây lúa

Thiên địch của sâu đục thân cú mèo ở nước ta chủ yếu gồm các loài Trichogramma japonicum, Amauromorpha accepta schoenobii, Bracon onukii, Eriborus sinicus, Temelucha philippinensis, Tropobracon schoenobii, Goryphus basilaris (Phạm Văn Lầm, 2000).

Biện pháp phòng trừ (tương tự sâu đục thân 5 vạch đầu nâu và đầu đen)

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Bón cân đối NPK, không nên bón quá nhiều đạm và bón đạm kéo dài.

+ Bố trí cơ cấu mùa vụ thích hợp. Sau khi gặt lúa, cày lật gốc rạ, phơi ải hoặc ngâm nước (làm dầm) để diệt nhộng.

+ Dùng các biện pháp thủ công: ngắt dảnh héo, ổ trứng; bẫy đèn đồng loạt bắt bướm…

- Biện pháp hóa học: Phun các loại thuốc lưu dẫn, vị độc, tiếp xúc, nội hập như: Padan 95SP, Gegent 800WP...

- Thời điểm phun thích hợp nhất:

Với sâu đục thân 5 vạch đầu đen, đầu nâu và sâu đục thân bướm cú mèo thì thời điểm phòng trừ sớm hơn tốt nhất là từ trung tuần tháng 4 đến đầu tháng 5 dương lịch (hoặc thời điểm vừa lúa vừa ngưng đẻ nhánh hữu hiệu, trước khi bón phân đón đòng).

Bởi vì sâu đục thân 5 vạch đầu nâu và đầu đen thích nghi với nhiệt độ thấp hơn so với sâu đục thân bướm hai chấm nên có thể phát sinh liên tục trong các tháng mùa đông. Hai loài sâu đục thân này phá hại từ khi cây lúa ở cuối giai đoạn đẻ nhánh đến khi trỗ. Mỗi năm hai loài sâu này đều xuất hiện 5, 6, 7 lứa và thích hợp với ruộng có mức nước không ngập bẹ lá. Còn sâu đục thân bướm cú mèo mỗi năm xuất hiện 5- 6 lứa. Sâu thích hợp với khoảng nhiệt độ rộng nên phát sinh gây hại tất cả các vụ lúa, kể cả những tháng mùa đông.

+ Không nên dùng thuốc trừ sâu hoà với nước phun khi lúa còn nhỏ và đang ở giai đoạn đẻ nhánh rộ và lúc này lúa vẫn có khả năng đẻ thêm nhánh để bù vào các nhánh bị sâu phá hoại, đồng thời làm như vậy sẽ giết chết các thiên địch của sâu đục thân.

+ Có thể phun thuốc sâu ở ruộng mạ trước khi nhổ cấy hoặc những ruộng trỗ muộn có khả năng bị bông bạc.

+ Ở những vùng thường bị sâu hại dùng thuốc dạng hạt rải khi kúa ngưng đẻ hữu hiệu (35 - 45 ngày sau khi sạ cấy tuỳ giống lúa).

Nguồn: camnangcaytrong.com

2017-09-28 09:59:00

Trang liên kết