Bệnh khảm, rỉ sắt, mốc vàng trên cây đậu tương

Bệnh khảm, rỉ sắt, mốc vàng trên cây đậu tương

 I. Bệnh khảm

Tên khoa học: Soybean mosaic virus

Triệu chứng gây bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus):

Đây là một trong những bệnh quan trọng nhất ở nhiều nơi trên thế giới. Mức độ của bệnh tùy thuộc vào giống và khí hậu. Ở nhiệt độ cao, bệnh không biểu hiện Triệu chứng bệnh ra ngòai. Năng suất có thể giảm trên 25%. Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thập niên 1900. Bệnh hiện diện ở khắp các vùng trồng đậu nành trên thế giới. Khi bệnh xuất hiện sớm sẽ dẫn đến thất thu nặng.

Ở ĐBSCL, từ vụ đông xuân 79-80, bệnh tỏ ra khá phổ biến. Bệnh có thể xuất hiện khá sớm (vào 4 tuần sau khi gieo) và gây thiệt hại nặng ở những ruộng không được trị bệnh kịp lúc.

Lá bị mất màu, loang lổ giống như tấm khãm. Lá nhỏ lại, phát triển không đều, bìa lá cong xuống làm lá biến dạng. Phiến lá bị xếp nếp nhăn nhúm, có màu loang lổ xanh nhạt và xanh đậm và thường dày hơn lá bình thường. Dọc gân lá, mô tế bào nổi rộp lên những mụn màu xanh đậm.

Bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus) trên lá

Lá cây bị bệnh khảm do vi khuẩn soybean mosaic virus

Triệu chứng bệnh trên lá trông gần giống Triệu chứng bệnh đậu nành bị ngộ độc thuốc diệt cỏ 2,4 D. Việc sử dụng bất cẩn thuốc diệt cỏ cho ruộng đậu hoặc ở gần ruộng đậu, nhất là vào những ngày có gió mạnh có thể gây hại cho các ruộng đậu ở cách xa đó 30-60 m.

Bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus) trên hạt

Bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus)

Cây lùn do các lóng thân phát triển kém. Trái và hạt phát triển chậm lại, nhất là các trái ở phần trên của cây. Trái chín chậm, hạt nhỏ, vỏ hạt bị đổi thành màu nâu nhạt và đậm không đều, từ tễ hạt lan ra. Triệu chứng bệnh bệnh được biểu hiện rõ ở 18,5oC. Trên 29,5oC, Triệu chứng bệnh sẽ ở dạng tiềm ẩn.

Tác nhân gây bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus):

Do cực vi khuẩn SMV (soybean mosaic virus) Soja virus I (Gardner Kendrick) Smith. Soja virus I được truyền qua hạt giống, qua côn trùng mang truyền bệnh (vectors) và có thể truyền bằng cơ học. Các vectors quan trọng nhất là các lòai rầy mềm Macrosiphum, M. gei và M. pisi, và Myzus persicae, Disaulacorthum pseudosolani. Virus thuộc lọai lưu tồn không bền trong cơ thể vectors (non - persistent virus) và bị mất họat tính ở nhiệt độ 64 - 66oC trong 10 phút.

Biện pháp phòng trị bệnh khảm, khảm vỏ hạt đậu tương (soybean mosaic virus):

- Ruộng sản xuất giống nên được trồng sớm và bố trí cách ly với ruộng sản xuất đại trà.

- Dùng hạt giống tốt, đầy đặn, chống bệnh hoặc từ ruộng không bị bệnh. Khử hạt trước khi gieo như đối với bệnh đốm phấn.

- Cần phát hiện bệnh sớm và tiêu hủy cây bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, trừ cỏ dại.

- Phun thuốc phòng trừ côn trùng mang truyền mầm bệnh.

II. Bệnh rỉ sắt

Tên khoa học: Phakopsora pachyrhizi Sydow, Phakopsora sojae Sawada.

Triệu chứng bệnh rỉ hại đậu tương (nành) (Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.):

Đây là một bệnh rất phổ biến ở các vùng trồng đậu tương (đậu nành), gây hại với các mức độ khác nhau, trên hầu hết các giống đậu tương đang canh tác. Bệnh có thể xuất hiện trên tất cả các mùa vụ tại Đồng bằng sông Cửu long, nhưng bệnh thường phát triển mạnh vào vụ Hè Thu, khi có mưa nhiều, lớp không khí ở mặt đất có độ ẩm cao. Bệnh thường nặng ở các ruộng đậu tương (đậu nành) xen canh với bắp.

Bệnh có thể tấn công từ khi cây đậu tương có hai lá kép cho đến lúc trái chín. Bệnh phát triển chậm vào giai đoạn từ cây con đến trước khi ra hoa, nhưng sau đó bệnh sẽ phát triển nhanh và nặng hơn. Lá còn non có sức chống chịu bệnh cao hơn các lá già. Điều này có thể do ở lá non có chứa nhiều đạm tổng hợp và đạm protein hơn ở lá già.

Lá, thân và trái đậu tương đều bị nhiễm bệnh, nhưng bệnh xuất hiện chủ yếu trên các lá già.

Trên lá, vết bệnh mới xuất hiện là những đốm tròn nhỏ, có nhiều màu sắc khác nhau: xanh nhạt, nâu vàng hoặc nâu xám, lấm tấm như đầu kim, rải rác đều trên mặt lá. Sau đó vết bệnh phát triển rộng ra khoảng 1mm, có dạng tròn hoặc dạng có góc cạnh hoặc bất dạng, có màu nâu vàng hoặc nâu đỏ như màu rỉ sắt hoặc nâu đen. Đặc tính về màu sắc và kích thước vết bệnh thường thay đổi khác nhau, chủ yếu là do khả năng gây bệnh của nấm, giống đậu nành và điều kiện thời tiết. Triệu chứng bệnh đặc biệt là vết bệnh nhô lên ở hai mặt lá, thường nhô cao ở mặt dưới lá. Đây là do đặc tính thích nghi môi trường của nấm bệnh: ở mặt dưới của lá có ẩm độ và nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển. Ngoài ra, mưa và ánh nắng gay gắt cũng không ảnh hưởng trực tiếp như ở mặt trên của lá. Bệnh nặng, các vết bệnh liên kết lại với nhau, làm cho lá bị khô cháy từng mãng hoặc cả lá, lá rụng nhiều, cây mất dần khả năng quang hợp. Nếu bệnh nặng vào giai đoạn cây chưa ra hoa, kết trái, sẽ làm thất thu hoàn toàn.

 Bệnh rỉ hại đậu tương (nành) (Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.)

Phakopsora pachyrhizi bệnh rỉ hại đậu tương (đậu nành)

Bệnh rỉ hại đậu tương (nành) do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.

Tác nhân gây bệnh rỉ hại đậu tương (nành):

Do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.

Nấm gây bệnh thuộc lớp nấm Đãm (Basidiomycetes). Trên đồng ruộng, nấm gây bệnh thường ở dạng sinh sản vô tính, thường gặp nhất là các hạ bào tử (uredospore), chúng tập hợp lại thành các hạ bào quần (uredosores) nhô lên ở hai mặt lá.

Hạ bào quần có kích thước 197- 258 x 97 - 108 micron, được thành lập dưới lớp biểu bì lá, sau đó nhô lên khỏi bề mặt lá.

Hạ bào tử có kích thước 4,7 - 13 x 2,1 - 5,6 micron, gồm một tế bào không màu hoặc vàng nhạt, dạng bầu dục không đều (có đầu trên tròn, hơi phình to, đầu dưới thu nhỏ lại), bên trong hiện rõ 1 - 2 hạt dầu.

Khi gặp trời rét, vết bệnh có màu nâu đen hoặc đen do ổ nấm được thành lập là những đông bào quần (teleutosores, teliosori), chứa các đông bào tử (teleutospores, teliospores). Đông bào tử có kích thước 12 - 34 x 5 - 13 micron, gồm một tế bào màu nâu, dạng bầu dục dẹp (ellip) hoặc góc cạnh.

Biện pháp phòng trị bệnh rỉ do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow; Phakopsora sojae Sawada.:

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

* Giống: Nên trồng giống đậu tương kháng hoặc ít nhiễm bệnh. Giống Tainung 63 kháng được bệnh này. Kết quả trắc nghiệm tại Trường Đại Học Cần Thơ qua hai vụ ĐX 82 - 83 và ĐX 83 - 84 cho thấy các giống/dòng sau đây tỏ ra ít bị nhiễm bệnh: Orba, Dun, DL, C 5 - 20, 1338 mới, MTĐ 22, MTĐ 22 - 1, MTĐ 22 - 3, MTĐ 22 - 4 và MTĐ 120 - 2.

Trong những năm qua, đa số các giống đậu nành được trồng tại Đồng bằng sông Cửu long đều bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, nhờ đặc tính nhiễm trể nên thất thu năng suất không đáng kể. Thực tế nhất, nên chọn giống từ ruộng không bị bệnh hoặc chỉ nhiễm nhẹ. Hạt tốt, đầy đặn cũng là yếu tố giúp cây phát triển tốt, chống chịu được bệnh.

* Thời vụ: giữ vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh. Tại Đồng bằng sông Cửu long, không riêng bệnh rỉ mà đối với đa số các bệnh do nấm và vi khuẩn, đậu nành được trồng ở vụ Đông Xuân thường bị nhiễm bệnh nhẹ hơn ở vụ Hè Thu. Nên gieo sạ đúng thời vụ.

* Kỹ thuật canh tác:

+ Mật độ gieo sạ: Cần bão đảm mật độ gieo sạ ở từng vùng canh tác, gieo sạ dày sẽ tạo điều kiện vi khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển; ngược lại, gieo sạ thưa thì cỏ dại sẽ phát triển mạnh.

+ Nước tưới: Áp dụng chế độ nước tưới đầy đủ không để ruộng bị khô hạn hoặc bị úng nước. Bão đảm nguồn nước tưới không chứa mầm bệnh.

+ Phân bón: Bón phân đầy đủ và cân đối, không bón quá nhiều phân đạm, tăng cường phân lân và kali cho những ruộng thường xuyên bị nhiễm nặng.

* Vệ sinh đồng ruộng:

+ Đất: sửa soạn kỹ, nên phơi đất để diệt bớt nguồn bệnh hoặc khử đất bằng thuốc trừ nấm.

+ Sau vụ mùa và trước khi canh tác, nên gom các xác bã cây và cỏ dại để thiêu đốt hoặc chôn sâu, nhất là ở những ruộng đã nhiễm bệnh nặng.

* Khử hạt: nguồn lây lan quan trọng của bệnh này là các hạ bào tử của nấm bệnh bám trên hạt giống, nên việc khử hạt là rất cần thiết để bão vệ cây ở giai đoạn cây còn nhỏ. Có thể khử hạt bằng nước “ba sôi - hai lạnh“ (khoảng 52oC) trong 15 phút, hoặc bằng nước muối 5%, hoặc thuốc khử hạt giống 0,1% - 0,2 %.

- Biện pháp hóa học:

+ Cần phát hiện bệnh sớm và sử dụng thuốc kịp thời. Áp dụng thuốc xịt khi có bệnh xuất hiện.

+ Loại thuốc: có thể dùng một trong các loại sau: Tilt 250ND, Tilt super 300ND.

+ Định kỳ: xịt 2 - 3 lần, cách nhau 10 - 15 ngày, trường hợp bệnh nặng thì xịt định kỳ 7 ngày một lần cho đến khi bệnh ngưng phát triển.

2017-09-29 10:44:00

Trang liên kết