Cây sắn (khoai mì) và những sản phẩm từ sắn

Cây sắn (khoai mì) và những sản phẩm từ sắn

 -Tên gọi khác: Khoai mì

-Tên tiếng Anh: Cassava, Manioc root, Manihot, Mogo.

-Tên khoa học: Manihot esculenta Crantz.

-Loài tương cận: Sắn lá hẹp Manihot angustiloba (Torr.) Müll.Arg.

Phân loại khoa học

 

Bộ (ordo):

Sơ ri (Malpighiales)

Họ (familia):

Đại kích (Euphorbiaceae)

Phân họ (subfamilia):

Ba đậu (Crotonoideae)

Tông (tribus):

Sắn (Manihoteae)

Chi (genus):

Sắn (Manihot)

Loài (species):

Manihot esculenta

Nguồn gốc và phân bố

Chi sắn (Manihot) có khoảng 100 loài cây bụi và thảo mộc có nguồn gốc ở Châu Mỹ từ bang Arizona ở Hoa Kỳ về phía nam tới Argentina. Thành viên được biết đến nhiều nhất trong chi này là loài sắn trồng (Manihot esculenta).

Tổ tiên của loài sắn trồng được biết đến là Phân loài sắn hoang dại Manihot esculenta subspecies flabellifolia được tìm thấy ở phía tây của Miền Trung Brazil, nơi mà cây sắn trồng đã được thuần hóa trong khoảng 10.000 đến 6.600 năm trước Công nguyên. Các địa điểm khảo cổ ở vùng Vịnh Mexico và vùng núi San Andrés đã tìm thấy phấn hoa và niên đại của phân loài sắn hoang dại này.

Sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993). Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brasil thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Rogers, 1965). Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ. Bằng chứng về nguồn gốc cây sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc  Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột sắn trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965).

Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế kỷ 16. Tài liệu nói tới cây sắn ở vùng này là của Barre và Thevet (1558). Ở châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G. Rajendran et al, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ 18 (W.M.S.M Bandara và M Sikurajapathy, 1992). Sau đó, sắn được trồng ở Trung QuốcMyanma và các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping 1992. U Thun Than 1992). Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991). Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên.

Loài sắn trồng (Manihot esculentavới tiềm năng thực phẩm cao, nó đã trở thành một nguồn thực phẩm chủ yếu của người dân bản địa của miền Bắc Nam Mỹ, phía Nam Trung Mỹ và vùng Caribbean vào trước thời điểm của cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào Châu Mỹ.

Sau khi chiếm Nam Mỹ, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha giới thiệu cây sắn trồng đến Châu Phi, Châu Á và từ đó các Đế quốc thực dân Châu Âu giới thiệu cây sắn đi khắp vùng nhiệt đới kể cả Châu Úc và các đảo ở Thái Bình Dương.

Kể từ thế kỷ thứ 16 cây ngô và sắn đã thay thế nguồn lương thực truyền thống ở Châu Phi là lúa, khoai sọ… và cây sắn trở thành cây lương thực mới quan trọng nhất của châu lục này. Sắn đôi khi được mô tả như là cây "bánh mì của vùng nhiệt đới" (không nên nhầm lẫn với các loài mệnh danh là cây bánh mì khác như: cây bánh mì (Encephalarios), cây Breadfruit (Artocarpus altilis) hoặc cây Breadfruit Châu Phi  (Treculia africana) có sẳn ở Châu Phi).

Cây sắn (khoai mì) nhanh chóng phát triển ở các nước Đông Dương (thời Pháp thuộc) và các nước Đông Nam Á, là loài cây cứu đói ở các nước đang phát triển trong thời kỳ khó khăn. Sau này cây sắn trở thành cây công nghiệp quan trọng.

Mô tả

Cây thân bụi một năm, sinh trưởng 3-5 tháng, chịu được khô hạn

-Thân: Thân cao 2-3 m, ít phân nhánh, trên thân có nhiều vết sẹo do cuốn lá bị rụng.

-RểRễ ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột, một cây có thể có nhiều củ. Củ dài và thon, vỏ củ màu xám nâu, sần sùi, dài 20-30 cm, rộng 5-10 cm.

-: Lá xẻ thùy, mổi lá có 5-7 thùy, cuốn và gân lá màu xanh nhạt hoặc nâu, mặt trên lá nhẳn, xanh đậm, mặt dưới xanh nhạt, nhám.

Thành phần dinh dưỡng

+Theo nguồn phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA):

 

Thành phần (trong 100g)

Sắn

Nước (g)

76

12

11

79

60

Năng lượng (kJ)

360

1528

1419

322

670

Protein (g)

3.2

7.1

13,7

2.0

1.4

Chất béo (g)

1,18

0,66

2.47

0.09

0,28

Carbohydrate (g)

19

80

71

17

38

Chất xơ (g)

2.7

1.3

10,7

2.2

1.8

Đường (g)

3.22

0.12

0

0.78

1.7

Canxi (mg)

2

28

34

12

16

Sắt (mg)

0,52

4,31

3,52

0.78

0,27

Magiê (mg)

37

25

144

23

21

Phốt pho (mg)

89

115

508

57

27

Kali (mg)

270

115

431

421

271

Natri (mg)

15

5

2

6

14

Kẽm (mg)

0,45

1,09

4.16

0,29

0,34

Đồng (mg)

0,05

0.22

0,55

0.11

0.10

Mangan (mg)

0.16

1,09

3.01

0,15

0,38

Selen (mcg)

0.6

15,1

89,4

0.3

0.7

Vitamin C (mg)

6,8

0

0

19,7

20,6

Thiamin (mg)

0.20

0.58

0.42

0.08

0.09

Riboflavin (mg)

0.06

0,05

0.12

0.03

0,05

Niacin (mg)

1.70

4.19

6.74

1,05

0,85

Pantothenic acid (mg)

0,76

1.01

0.94

0,30

0.11

Vitamin B6 (mg)

0.06

0.16

0.42

0,30

0.09

Folate Tổng số (mcg)

46

231

43

16

2017-10-04 09:25:00

Trang liên kết

 

THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
ĐT: (08)38.963.351 -(08)38.963.337
Email: vplib@hcmuaf.edu.vn - Website: http://elib.hcmuaf.edu.vn

Lưu ý: Website xem tốt nhất ở trình duyệt Firefox