Quản lý dịch hại cây có múi

Quản lý dịch hại cây có múi

 a.    Sâu hại

Sâu vẽ bùa
Phá hoại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 - 4 năm đầu mới trồng. Trên cây lớn thường phá hoại vào thời kỳ ra đọt non. Sâu đẻ trứng và phá trên các búp non. Sâu non nở ra ăn các lớp biểu bì trên lá, tạo thành các lớp ngoằn ngèo có phủ sáp trắng, lá xoăn lại cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Lá non bị tấn công sẽ không phát triển và biến dạng, giảm quang hợp, cây sinh trưởng và phát triển kém, nhất là cây con, hoa trái dễ bị rụng.

 

 Biện pháp phòng trừ:
-    Phòng trị sâu vẽ bùa ngay trong giai đoạn ra lá non như vào đầu mùa mưa, tỉa cành cho ra đọt non tập trung, mau thành thục để hạn chế sự phá hại của sâu.
-    Phun thuốc ngay khi lá non vừa có triệu chứng đầu tiên (25% đọt hoặc lá non) bằng các loại thuốc có hoạt chất: Imidacloprid, Esfenvalerate, Buprofezin…
Rầy chổng cánh
Ấu trùng và thành trùng chích hút dinh dưỡng của lá và đọt non làm cho đọt non lụi dần, sần sùi, lá non bị hại phiến lá nhỏ và xoăn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và sự ra quả.
Trưởng thành khi đậu thường chúc đầu và cánh chổng cao hơn phần đầu, thường đậu ở các đọt non để chích hút nhựa cây, ít bay và thường bay gần, ấu trùng di chuyển chậm chạp, sống tập trung ở đọt và lá non.

 Khi mật số cao, sự chích hút của rầy làm cho chồi bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành. Rầy còn là trung gian truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh Vàng lá greening cho cây.
Biện pháp phòng trừ:
-    Loại bỏ nguồn bệnh ra khỏi vườn.
-    Trồng giống cây sạch bệnh.
-    Điều khiển đọt non ra tập trung, trồng cây chắn gió chung quanh vườn.
Không trồng cây họ cam quýt (cần thăng, nguyệt quế, kim quýt… ) trong vườn.
-    Nuôi kiến vàng Oecopphylla smaragdina.
-    Sử dụng bẫy màu vàng vào các đợt ra lộc non, cứ 5 cây/hàng đặt 1 bẫy.
-    Khi phát hiện thành trùng, dùng thuốc hóa học có hoạt chất: Imidacloprid, Fipronil, Thiamethoxam…
Rầy mềm – Rệp sáp – Bọ trĩ
Rầy mềm: chích hút nhựa làm đọt non không phát triển và biến dạng, phân chúng thải ra có nhiều chất đường mật kích thích nấm bồ hóng phát triển trên lá làm giảm khả năng quang hợp. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh Tristeza.
Rệp sáp: chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.
Bọ trĩ: tấn công trên lá non, hoa và cả trên trái.
Biện pháp phòng trừ:
-    Sử dụng bao trái chuyên dùng.
-    Tỉa cành để cây ra đọt non tập trung.
-    Phun các loại thuốc có hoạt chất: Acetamiprid, Chlorpyrifos + Cypermethrin …

 

Nhện đỏ
Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, thường chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1 - 2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm.

Biện pháp phòng trừ:
Phát hiện thật sớm khi vừa đậu trái và phun các loại thuốc có hoạt chất trừ nhện cho đến khi trái lớn: Karanjin, Hexythiazox, Sulfur…

 

Sâu đục vỏ trái
Sâu chủ yếu gây hại phần vỏ trái, không ăn phần múi của trái. Sâu tấn công khi trái còn rất nhỏ, vết đục tạo nên những u sần trên trái, nếu bị nặng trái sẽ rụng. Nếu sâu tấn công vào giai đoạn trễ hơn, trái vẫn phát triển nhưng sẽ bị biến dạng, vỏ u sần, trái bị giảm giá trị thương phẩm.
Biện pháp phòng trừ:
-    Theo dõi, thu gom những trái bị nhiễm (trên cây hoặc trái rụng xuống đất), đem chôn sâu để diệt sâu còn ở vỏ trái.
-    Sử dụng bao trái chuyên dùng.
-    Sử dụng chất dẫn dụ.
-    Sử dụng các hoạt chất để phòng trừ khi vừa tượng trái non: Fenobucarb + Phenthoate, Chlorpyrifos Ethyl, Thiamethoxam… Phun liên tiếp 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày.
Sâu đục thân, cành
Sâu đục rỗng thân, cành gây chảy mủ, chết cành.
Biện pháp phòng trừ:
-    Bắt sâu trưởng thành ( xén tóc).
-    Rãi thuốc hạt (Hoạt chất: Fipronil, Chlorpyrifos Ethyl + Fipronil…), cắt bỏ cành bị hại nặng, bơm thuốc trừ sâu vào lỗ đục (Hoạt chất: Acetamiprid,Chlorpyrifos + Cypermethrin …).Kết hợp phun các loại thuốc trên lên cây để diệt trứng.
Chú ý: sâu đục thân, đục cành thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng11, 12 dùng vôi quét vào gốc cây có tác dụng: một là lấp những kẽ nứt ở vỏ làm cho sâu không có chỗ đẻ trứng, hai là nếu sâu đã đẻ trứng thì vôi sẽ làm cho trứng bị ung không nở thành sâu non để phá hại được.
Bọ xít xanh
Cả con trưởng thành và con ấu trùng đều dùng vòi để chích hút dịch trái từ khi trái còn rất nhỏ. Chỗ vết chích có một chấm nhỏ và một quầng màu nâu. Nếu trái còn nhỏ đã bị bọ chích hút nhiều thì trái sẽ vàng, chai và rụng sớm. Nếu trái đã lớn mới bị bọ gây hại thì trái dễ bị thối rồi rụng. Một con có thể chích hút gây hại nhiều trái.

 

 Biện pháp phòng trừ:
-    Sử dụng bao trái chuyên dùng.
-    Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát.
-    Thường xuyên kiểm tra trái và những lá gần trái để phát hiện và thu gom ổ trứng đem tiêu hủy.
-    Nếu vườn rộng, bọ xít nhiều không thể bắt bằng vợt tay, có thể sử dụng một trong những loại thuốc có hoạt chất: Pyridaben, Lambda–cyhalothrin + Thiamethoxam… để phun xịt.
Câu cấu
Câu cấu là đối tượng rất nguy hiểm bởi với số lượng lớn, phàm ăn, chúng ăn cụt các đọt non, lá non, lá bánh tẻ và quả non. Quả bị hại nặng có thể rụng, quả bị nhẹ làm vỏ quả biến dạng, giảm phẩm cấp thương phẩm quả.
Câu cấu trưởng thành xuất hiện sau các đợt mưa khi cây đang ra đọt non. Câu cấu phá hại đọt làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, làm giảm năng suất vườn cây năm sau.
 Biện pháp phòng trừ:
-    Dùng vợt hoặc tay bắt trưởng thành.
-    Phun thuốc có hoạt chất: Fenitrothion, Thiodicarb…

 

Ruồi vàng (Bactrocera dorsalis)
Ruồi vàng trưởng thành cái dùng ống đẻ trứng châm qua vỏ quả, đẻ vào nơi tiếp giáp vỏ quả và thịt quả. Dòi ăn thịt quả, tuổi lớn đục vào phía trong, gây ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của sản phẩm.
Biện pháp phòng trừ:
-    Sử dụng bao trái chuyên dùng.
-    Đánh bã protein: sử dụng để diệt ruồi đực. Tẩm 2 ml hợp chất dẫn dụ (ME hoặc CuE+ 20% thuốc trừ sâu) vào bẫy. Treo bẫy lên cây nơi râm mát ở độ cao 1,5 – 2 m. Mỗi ha treo 20 – 30 bẫy, cứ sáu tuần thay bả một lần. Nếu dùng bả để phun phòng thì chỉ cần pha 50 ml bả protein + 10ml Chlorpyrifos Ethyl + 0,95 lít nước để trừ. phun định kỳ 5 – 7 ngày/lần.

 -    Thuốc diệt ruồi vàng đục trái Methyl eugenol 75 % + Dibrom 25 %: Hộp chứa 2 chai thuốc, gồm 1 chai lớn (chất dẫn dụ ruồi) và 1 chai nhỏ (chất diệt ruồi). Đổ hết thuốc diệt ruồi vào chai chất dẫn dụ, đậy nắp kín, lắc đều. Sau đó tẫm khoảng 1ml hỗn hợp thuốc đã trộn vào bẫy, treo lên cây. Treo từ 2 - 3 bẫy cho mỗi 1000 m2.
Sâu đục trái (Citripestis sagittiferela)
Đây là loài gây hại nặng nhất hiện nay trên cây có múi, chúng phát tán qua đất có chứa nhộng và thành trùng phát tán nhờ gió do thành trùng có khả năng bay mạnh.
Biện pháp phòng trừ:
-    Xử lý cho cây ra hoa, đậu trái đồng loạt để dễ quản lý sâu gây hại.
-    Thu gom và tiêu hủy trái bị nhiễm sâu (trái đã rụng hoặc còn trên cây).
-    Vệ sinh sạch cỏ và rác mục để hạn chế nơi sâu làm nhộng.
-    Tưới phun nước vào buổi chiều mát để hạn chế sâu đẻ trứng.
-    Bao trái bằng túi chuyên dụng vào giai đoạn trái được vài tuần tuổi (2-3 cm), trước khi bao trái nên quan sát, kiểm tra kỹ xem có ổ trứng trên trái không.
-    Sử dụng đèn, long não, tỏi xua đuổi.
-    Sử dụng thuốc hóa học
-    Sử dụng Thiên địch: kiến vàng, Ong ký sinh Rhoptromeris sp.

 

 b.    Bệnh hại
Bệnh Tristeza
Virus làm hỏng mạch dẫn nhựa từ trong thân cây xuống rễ, làm rụng lá, chết đọt, lùn cây và làm cho bộ rễ bị thoái hóa.
Tuỳ theo giống, dòng virus nhiễm, chúng được phân loại như sau:
-    Dòng nhẹ: Không gây ảnh hưởng mấy đến năng suất cây, chỉ gây gân trong hoặc lõm thân nhẹ trên chanh giấy (Citrus aurantifolia).
-    Vàng lùn cây con: Gây vàng và lùn trên cây cam chua (C. aurantium), chanh giấy (C. limon), và bưởi chùm (C. paradisi).
-    Chết nhanh trên cam chua: Ghép cam mật (C. sinensis) trên gốc ghép cam chua sẽ cho cây bị lùn, vàng, lõm thân và chết nhanh.
-    Lõm thân trên buởi: Cây bị lùn, cả thân và nhánh cây bị lõm nặng khi bóc vỏ khỏi thân. Giảm năng suất và kích thước trái, cành trở nên giòn và dễ gãy.
-    Lõm thân trên chanh tàu: Cây vẫn sinh trưởng bình thường, thân chính và cành bị quặc quẹo, khi bóc vỏ thân, phần gỗ bị lõm vào rất nhiều.
-    Vàng đít trái trên quýt đường: cây vẫn sinh trưởng và xanh tốt, tuy nhiên khi trái đạt kích thước bằng trái pingpong thì trái bị vàng từ phần đít trái vàng lên cuống trái, trái rụng hàng loạt, gây thất thoát nặng cho nhà vườn.
Bệnh lây lan qua mắt ghép, hoặc do các loài rầy mềm chích hút nhựa cây và lan truyền bệnh.

 

 Biện pháp phòng trị:
-    Trồng giống sạch bệnh
-    Không trồng cây cùng họ cây có múi trong vườn.
-    Phòng trừ các loại rầy mềm bằng các loại thuốc trừ rầyvào các đợt ra đọt, lá non để tránh lan truyền mầm bệnh.
Bệnh vàng lá Greening (Vàng lá gân xanh)
Do vi khuẩn Liberobacter asiaticus gây ra, rầy chổng cánh làm môi giới truyền bệnh, mầm bệnh không lưu truyền qua trứng rầy và hạt giống.
Triệu chứng điển hình là lá bị vàng lốm đốm nhưng gân vẫn còn xanh, gân bị sưng rồi trở nên cứng và uốn cong ra ngoài, lá phía trên ngọn nhỏ và hẹp biểu hiện triệu chứng thiếu kẽm.
Cây ra hoa nhiều đợt, có thể trên cùng một nhánh cây vừa mang quả vừa có hoa. Quả nhỏ hơn bình thường, méo mó, khi bổ dọc quả ra thì tâm quả bị lệch hẳn sang một bên, quả chín ngược. Trên quả bị bệnh hạt thường bị thui đi, có màu nâu.
Cây bị bệnh hệ thống rễ cũng bị thối nhiều.

 

Biện pháp phòng trị:
-    Không trồng giống có nguồn gốc không rõ xuất xứ.
-    Khử trùng sau mỗi lần sử dụng các dụng cụ cắt tỉa.
-    Trồng giống sạch bệnh và nên cách ly với vùng nhiễm bệnh, vườn trồng phải có cây chắn gió để hạn chế rầy chổng cánh di chuyển từ nơi khác tới.
-    Khi cây bị nhiễm nhẹ, cắt tỉa và tiêu hủy các cành, cây bị bệnh để tránh lây lan. Khi cây bị nhiễm nặng cần loại bỏ toàn bộ cây ra khỏi vườn.
-    Phun thuốc trừ rầy chổng cánh vào các đợt ra lá non.
Bệnh vàng lá thối rễ
Do nấm bệnh (Fusarium, Rhizoctonia, Sclerotium) xâm nhập vào rễ cây hoặc cổ rễ qua các vết xây xát do bị gió lay hoặc côn trùng trong đất cắn phá.
Bệnh gây hại ở rễ và cổ rễ giáp mặt đất. Trên cổ rễ lúc đầu nhỏ màu nâu sau chuyển nâu đen và lan rộng bao quanh phân vỏ cổ rễ, vỏ bị thối khô, nứt và bong tróc ra để trơ phần gỗ phía trong. Nấm có thể ăn sâu vào thân làm thân bị khô đen, các rễ phía dưới cũng bị thối đen.
Cây mới bị bệnh có biểu hiện sinh trưởng kém, lá bị vàng và rụng dần. Cây cho nhiều chồi ngắn, lá nhỏ, nhiều hoa, trái, trái chua, cây còn nhỏ có thể bị chết khô hoàn toàn.

 

 Biện pháp phòng trị:
-    Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện những cây sinh trưởng kém, kiểm tra cổ rễ, nếu phát hiện bệnh:
-    Diệt côn trùng phá hại rễ trong đất: ve sầu, tuyến trùng, rệp sáp… bằng các loại thuốc BVTV.
-    Dùng các loại thuốc có hoạt chất: Metalaxyl, Mancozeb + Metalaxyl – M, Amisulbrom…tưới vào gốc.
Vườn cần thoát nước tốt, bón vôi vào cuối mùa nắng. Cây bị bệnh cần đào bỏ hết gốc, rải vôi sát trùng. Sử dụng nhiều phân hữu cơ vi sinh.
Bệnh thối gốc chảy nhựa
Phần lớn do nấm Phythopthora spp. gây ra.
Ở phần gốc có những vết nhũn nước, nhựa chảy ra, lúc đầu có màu vàng, sau đó khô cứng lại có màu nâu. Vết bệnh sau cùng khô và nứt, ngay vết bệnh vỏ trong bong ra. Bệnh có thể phát triển nhanh vòng quanh thân hoặc rễ chính làm lá bị vàng, nhất là gân lá, kế đó lá rụng, bệnh nặng lá trên cành rụng gần hết, cành khô chết.
Biện pháp phòng trị:
-    Không để úng nước, không ủ cỏ sát gốc vào mùa mưa.
-    Dùng các hoạt chất Copper Sulfate, Bordeaux + Zineb, Mancozeb, Copper Hydroxide, Dimethomorph + Mancozeb… pha đặc, quét vào vết bệnh 7 ngày/lần, để ngừa  2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa.
-    Khi bệnh gây hại trên cây, phun thuốc có hoạt chất: Amisulbrom,Fosetyl – aluminium … Vết bệnh ở gốc, có thể dùng các loại thuốc trên pha đặc, rửa sạch vết bệnh và quét thuốc vào.
Bệnh loét
Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. Citri gây ra.
Bệnh xuất hiện trên cành, lá non và trái. Bệnh lây lan và gây hại nặng trong mùa mưa do độ ẩm không khí cao, hoặc do mưa, do tưới cây làm văng nguồn bệnh sang các lá khác. Các vườn trồng dày thiếu chăm sóc, nhất là vườn cây con bị bệnh nặng hoặc bón nhiều phân đạm.
Triệu chứng ban đầu là những đốm bệnh màu vàng sáng, nhỏ như vết kim châm trên lá non, sau đó bệnh phát triển nhanh thành những vết bệnh màu nâu nhạt. Đường kính vết bệnh biến thiên theo giống trồng, trên bưởi thì vết bệnh thường lớn hơn so với cam quýt và chanh. Xung quanh vết bệnh thường có viền màu vàng sáng, các vết bệnh có thể liên kết lại với nhau thành từng mảng lớn đặc biệt là bệnh nhiễm theo các vết đục của sâu vẽ bùa.
Bệnh nặng làm rụng lá, chết cành, trái sượng không phát triển hoặc rụng.
Bệnh có thể nhầm lẫn với bệnh ghẻ (sẹo), bệnh loét thể hiện trên cả hai mặt lá, chung quanh vết bệnh có viền vàng sáng và không làm lá biến dạng, nhăn nheo.Ngược lại bệnh ghẻ thường hiện diện ở một mặt lá, thường là mặt dưới, vết bệnh nhỏ hơn vết bệnh do loét gây ra và thường nhô cao trên bề mặt phiến lá, chung quanh không có quầng vàng.     
Sâu vẽ bùa thường tấn công trên lá non và tạo nên các vết thương là nơi vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào trong tế bào cây và gây hại.

 

 Biện pháp phòng trị:
-    Cắt tỉa cành, lá, trái bị bệnh và thiêu hủy trước khi tưới nước, ra hoa.
-    Những vườn bị bệnh không nên tưới nước lên tán cây vào buổi chiều mát, chỉ tưới vào gốc cây và không tưới thừa nước. Tăng cường bón thêm phân kali cho vườn cây bị bệnh.
-    Phun ngừa các loại thuốc gốc đồng, vôi (Clorin 0, 3- 0,5 % ) trước khi mùa mưa đến hoặc trước khi tưới nước cho cây ra hoa.
-    Phun trị bệnh bằng các loại thuốc có hoạt chất:  Copper Oxychloride + Kasugamycin ….
Chú ý: nên phun nước trước khi phun thuốc 1 - 2 giờ để làm tan lớp keo bao ổ bệnh, hiệu quả của thuốc sẽ cao hơn.
Bệnh ghẻ nhám
Do nấm Elsinoe fawcettii gây ra.
Bệnh gây hại trên lá, trái, cành; bệnh nhiễm rất sớm trên các bộ phận còn non của
cây. Bệnh gây hại nặng trong lúc có ẩm độ và nhiệt độ cao hoặc trên vườn cây già thiếu chăm sóc.
Vết bệnh lúc đầu nhỏ, tròn, màu xanh nhạt. Sau đó vết bệnh nhô lên, khi vết bệnh gìa trên đỉnh vết bệnh có màu vàng nhạt đến vàng nâu nhạt.
Ở lá vết bệnh thường nhô lên ở phía mặt dưới của lá làm lá cong lại hoặc bị vặn vẹo, lá bị biến dạng.
Trên trái và cành vết bệnh nhô lên giống như trên lá. Bệnh nặng làm lá  nhỏ lại hoặc vàng và rụng, cành bị khô chết, trái sượng, méo mó.
Bệnh nhẹ làm da trái, cành bị sần sùi màu vàng nhạt, có các vảy màu vàng cạo nhẹ sẽ tróc ra, vết bệnh giống như rắc cám lên vỏ trái nên còn được gọi lá bệnh “da cám”.
Biện pháp phòng trị:
-    Thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy.
-    Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi  hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng.
-    Phun thuốc có hoạt chất:Metiram Complex, Carbendazim, Hexaconazole… 7 - 10 ngày/lần.
Bệnh ghẻ lõm
Do nấm Phyllosticta citricarpa, Phoma citricarpa, Phyllostictina citricarpa (Guignarda citricarpa) gây ra.
Bệnh gây hại nặng trên quýt Tiều, cam Sành, cam Mật và hiện nay bắt đầu gây hại trên quýt đường.
Bệnh nhiễm rất sớm trên trái nhưng thường đến lúc trái đạt kích thước tối đa hoặc trái bắt đầu vào giai đoạn chín (lên da lươn) bệnh mới thể hiện triệu chứng.
Đầu tiên vết bệnh là những chấm nhỏ màu nâu, sau đó lớn dần, có viền màu nâu. Trên trái quýt Tiều, bên trong vết bệnh có màu trắng xám, đôi khi có những chấm nhỏ màu đen. Trên trái cam Mật vết bệnh có màu nâu, viền nâu đậm; nhiều vết bệnh có thể liên kết lại với nhau thành vết bất dạng.
Bệnh thường gây hại nặng ở những vườn cây già, trái ở tầng trên hoặc trái phơi ra ngoài nắng. Bệnh làm trái cam mật rất dễ bị rụng.

 

Biện pháp phòng trị:
-    Thu gom những trái bị bệnh đem tiêu hủy.
-    Những vườn thường bị bệnh xảy ra phun ngừa định kỳ từ khi trái được 2 tháng tuổi cho đến trước khi thu hoạch 15 ngày. Giai đoạn đầu phun 30 ngày/lần, giai đoạn chuẩn bị lên da lươn đến thu hoạch phun 10 ngày/lần bằng các loại thuốc có hoạt chất: Metiram Complex, Benomyl,Thiophanate-Methyl …
Bệnh bồ hóng
Bệnh thường xuất hiện nơi râm mát. Nấm Capnodium citri gây hại trên lá, vỏ cây, vỏ trái. Bộ phận bị bệnh có lớp bột màu xám đen như bồ hóng. Loài nấm này sống ký sinh trên chất thải của rệp bông. Nếu chúng bám nhiều trên bề mặt lá thì ảnh hưởng khá lớn đến khả năng quang hợp của lá, kéo theo sức ra hoa và tạo quả của cây giảm.
Biện pháp phòng trị:
-    Khi cây bệnh, hạn chế sử dụng phân bón lá, nếu phun phân bón lá nhiều bệnh gây hại ngày càng nặng hơn.
-    Phun trừ rầy rệp kịp thời.
-    Phun thuốc trị bằng thuốc gốc đồng, sulfur… khi bệnh nặng.

 

Bệnh thán thư
Tác nhân gây hại: do nấm Colletotrichum acutatum hay Colletotrichum gloeosprioides gây ra.
Trên cánh hoa vết bệnh có màu nâu cam, làm rụng hoa để lại cuống và đài hoa.
Trên trái, vết bệnh là những đóm nhỏ, tròn, vàng nhạt, sau lớn dần có màu nâu đậm, vết bệnh hơi lõm vào và có thể bị nứt ra, trên vết bệnh có những vòng đồng tâm là những bào tử có nấm màu đen.
 Bệnh thán thư gây hại trên lá (a), trên trái (b)

 

Biện pháp phòng trị:
-    Cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái  bị bệnh.
-    Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh.
-    Phun thuốc khi thấy bệnh xuất hiện bằng các loại thuốc có hoạt chất: Mancozeb, propineb, chlorothalonil... Nên thay đổi thuốc sau vài lần phun để tránh sự quen thuốc của mầm bệnh.

Bệnh nấm hồng
Tác nhân gây bệnh: do nấm Corticium salmonicolor (Pellicularia salmonicolor).
Khi quan sát, thấy các tơ nấm trắng bạc từ vết bệnh, ban đầu vết bệnh ở bề mặt vỏ cây, sau đó ăn vào phần vỏ cây và tạo nên vết nứt. Tơ nấm phát triển rất dày và có các mụn ở đầu tơ nấm màu hồng đây là điểm đặc trưng của bệnh. Nếu bệnh nặng thì vết bệnh có thể ăn lan quanh cành làm cả cành bị lộ triệu chứng  khô cành.
Biện pháp phòng trị: Phun hoặc quét dung dịch thuốc BVTV có hoạt chất: Validamycin, mancozeb + metalaxyl… vào khu vực nhiễm nấm.
Bệnh gây hại nặng làm gãy cành lúc cây đang mang trái (c), chết cây con (d)

 

Bệnh vết dầu
Tác nhân gây bệnh: do nấm Mycosphaerella citri gây ra.
Bệnh xảy ra trên lá non, lá già và trái.
Triệu chứng ban đầu là những đốm trong nhỏ ở mặt dưới của lá sau đó chuyển sang màu vàng. Các đốm bệnh này phát triển rộng hơn chúng có màu nâu sáng, bóng và hơi khô, bệnh nặng làm cho lá bị rụng.
 Bệnh vết dầu gây hại trên lá: mặt trên lá (e), mặt dưới lá (f)

 

Biện pháp phòng trị:
-    Sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất: mancozeb + metalaxyl, chlorothalonil…
Bệnh đốm rong
Do tảo Cephaleuros virescens Kunze gây ra.
Bệnh thường gây hại trên thân, ít thấy trên trái và lá. Bệnh phát triển mạnh trong thời kỳ mưa dầm, vườn trồng dày, thiếu chăm sóc, vườn cây già.
Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh, sau đó lớn dần có hình tròn hoặc bầu dục, trên vết bệnh có lớp tơ mịn như nhung màu xanh rêu, giữa vết bệnh có màu đỏ gạch. Bệnh nặng lan dần lên các nhánh trên, đôi khi lan lên trái nếu vườn phun nhiều phân bón lá cho cây.
Biện pháp phòng trị:
-    Không trồng dày, nên tỉa cành tạo tán, tạo thông thoáng cho vườn.
-    Không nên phun phân bón lá quá nhiều.
-    Ngừa bệnh: có thể phun thuốc gốc đồng hoặc pha đặc quét lên thân, cành già vào đầu và cuối mùa mưa.
-    Phun thuốc khi cây bị bệnh nặng, có thể sử dụng thuốc có hoạt chất: chlorothalonil, mancozeb... để phun trị.

Nguồn: qtehaiduong.com.vn

2017-10-24 16:23:00

Trang liên kết